Cỡ chữ: Vừa | Lớn | Lớn hơn

Khái Niệm về Thuốc - Danh mục Thuốc gốc

nhiều tác giả

Xem nhanh:

Khái Niệm về Thuốc - 3

41. THUỐC HỒI SỨC

Thuốc kích thích thở gồm doxapram và nikethamide, đôi khi được dùng trong bệnh viện để chữa suy hô hấp do viêm phế quản mạn tính hay sau khi dùng thuốc quá liều . Thuốc còn có thể làm phục hồi nhanh chóng sau khi gây mê và để điều trị chứng không thở ở trẻ sơ sinh.

Thuốc hồi sức hoạt động bằng cách kích thích trung tâm hô hấp (một nhóm đầu tận dây thần kinh ở cuống não kiểm, soát tốc độ và thể tích hô hấp).

42.

THUỐC KHÁNG ACID

Thuốc thông dụng

Aluminum hydroxide, magnesium hydroxide, magnesium trisilicate, sodium bicarbonate.

Chú ý: không nên dùng thường xuyên thuốc kháng acid nếu không có bác sĩ theo dõi, vì thuốc có thể che dấu các triệu chứng của một bệnh nặng hơn hoặc gây ra các biến chứng nghiêm trọng.

Thuốc được dùng để làm giảm chứng khó tiêu, ợ chua, viêm thực quản, trào ngược dịch dạ dày vào thực quản và loét dạ dày.

Các loại thuốc kháng Acid

Các thuốc kháng acid thường chứa hợp chất magnesium hoặc aluminium, có tác dụng kéo dài, hoặc sodium bicarbonate, có tác dụng nhanh và ngắn. Một số loại có chứa alginate, dimethicon và thuốc tê tại chỗ.

Tác dụng

Thuốc kháng acid trung hoà acid ở dạ dày, chống hoặc giảm viêm và đau ở đường tiêu hoá trên. Thuốc kháng acid cũng làm lành ổ loét dạ dày và nhạy cảm với số lượng bình thường của acid dạ dày. Aginate chứa trong thuốc kháng acid giúp bảo vệ thực quản, chống trào ngược acid. Dimethicone làm giảm sự đầy hơ, và thuốc tê tại chỗ có thể làm hết đau trong viêm thực quản.

Tác dụng phụ

Aluminium có thể gây táo bón và magnesium có thể gây tiêu chảy. Hai tác dụng này có thể tránh được nếu thuốc có chứa cả hai thành phần. Sodium bicarbonate có thể gây ứ dịch và đầy bụng . Thuốc kháng acid có thể cản trở việc hấp thu các chất khác, cho nên cần hỏi ý kiến bác sĩ trước khi dùng chung với các thuốc khác

43.

THUỐC KHÁNG CHOLINE

Thuốc thông dụng

Atropine, belladonna, benzatropine, dicyclomine, hyoscyamine, ipratropium, orphenadrine, procyclidine, propantheline, scopolamine.

Nhóm thuốc ức chế tácdụng của acethylcholin, chất được giải phóng từ đầu tận của dây thần kinh đốigiao cảm của dây thần kinh tự trị. Acetylcholine gây ra giãn một số cơ, co thắt các cơ khác, và ảnh hưởng đến sự tiết nước bọt, tăng tiết ở miệng và phổi, làm chậm nhịp tim.

Thuốc được dùng điều trị hội chứng kích thích ruột, không giữ được nước tiểu, bệnh parkinson, suyễn và tim đập chậm bất thường. Cũng được dùng làm giãn đồng tử trước khi khám hoặc phẫu thuật mắt. Thuốc chống tiết choline cũng được dùng trong giai đoạn tiền mê trước khi gây mê tổng quát và trong điều trị rối loạn vận động.

Tác dụng phụ

Thuốc gây khô miệng, nhìn không rõ, bí tiểu và lú lẫn (tâm thần).

Thuốc chống tiết mồ hôi

44.

THUỐC KHÁNG Histamine

Thuốc thông dụng

Astemizole, azatadine, clopheniramine, mebthydrolin, promethazin, terfenadine, trimeprazin, triprolidin.

Chú ý: không nên lái xe và vận hành các máy móch nguy hiểm trong khi uống thuốc chống histamins cho đến khi bạn chắc chắn việc điều trị không gây chóng mặt hoặc ngủ gà.

Nhóm thuốc ức chế tác dụng của histamin, chất được phóng thích qua dị ứng (xem dị ứng).

Thuốc kháng histamin được dùng điều trị chứng nổi mề đay và các mẫn khác để làm giảm sưng, ngứa và đỏ. Các loại thuốc này còn được dùng để điều trị viêm mũi dị ứng để làm giàm hắt hơi và chảy mũi.

Thuốc kháng histamin đôi khi còn dùng các bệnh ho và cảm lạnh vì làm khô sự tiết của mũi và ức chế trung khu phản xạ ho trong não. Vì nhiều thuốc kháng histamin có tác dụng làm giảm đau, nó còn được dùng để gây ngủ, cho bệnh nhân bị thức giấc ban đêm vì ngứa. Các thuốc kháng histamin thường được cho bằng đường uống, nhưng có thể tiêm trong trường hợp cấp cứu để điều trị sốc phản vệ (một loại dị ứng nặng).

Tác dụng

Thuốc kháng histamin ức chế sự tác dụng của histamin lên các mô như da, mắt, mũi. Nếu không điều trị, histamin cũng làm giãn các mạch máu nhỏ, gây sưng và đỏ do mô và dịch thấm từ máu ra các mô xung quanh. Thuốc kháng histamin cũng ngăn chận kích thích dây thần kinh gây ngứa.

Tác dụng phụ

Nhiều loại kháng histamin gây ngủ gà và chóng mặt. Tuy nhiên các thế hệ thuốc kháng histamin sau này gần như không có tác dụng gây ngứa. Các tác dụng khác của thuốc kháng histamin gồm ăn kém ngon, nôn, khô miệng, rối loạn thị giác và tiểu khó.

45.

THUỐC KHÁNG HUYẾT THANH

Chất pha chế có chứa các kháng thể kết hợp với kháng nguyên đặc hiệu (protein lạ), các thành phần của vi sinh vật (như virus hoặc vi khuẩn). Kết hợp kháng thể- kháng nguyên như thế sẽ làm bất hoạt hay phá huỷ các vi sinh vật. Các mẫu kháng huyết thanh thường được điều chế từ máu súc vật bị tiêm các dòng virus hoặc vi khuẩn chết hoặc sống nhưng vô hại.

Kháng huyết thanh thường được dùng cùng với sự tạo miễn dịch, để điều trị cấp cứu khi bệnh nhân bị bệnh dại và không tạo được miễn dịch trước để chống vi khuẩn. Kháng huyết thanh cung cấp ngay cho bệnh nhân sự đề kháng chống nhiễm trùng trong lúc sự miễn dịch hoàn toàn đang phát triển. Tuy nhiên, cách xử trí như thế không có hiệu quả bằng cách tạo miễn dịch sớm phòng bệnh

46.

THUỐC KHÁNG KHUẨN

Nhóm thuốc dùng điều trị viêm nhiễm do vi khuẩn. Thuốc kháng khuẩn có tác dụng của thuốc kháng sinh, nhưng khác với kháng sinh, những thuốc này luôn được điều chế tổng hợp. Nhóm lớn nhất của thuốc kháng khuẩn là thuốc sulfonamide, chủ yếu dùng điều trị nhiễm trùng đường niệu.

47.

THUỐC KHÁNG NẤM

Thuốc thông dụng

Amphotericine, clotrimazole, econazole, flucytosine, griseofulvin, ketoconazole, miconazole, nystatin, tolnaftate.

Nhóm thuốc được kê đôn để điều trị nhiễm trùng do nấm. Các thuốc chống nấm được dùng để điều trị các loại khác nhau của bệnh vẩy phấn bao gồm: vẩy phấn chân, vẩy phấn đầu, cũng như bệnh do nấm candidas và các bệnh nhiễm nấm hiếm gặp như nấm crytococcus gây bệnh nội tạng.

Thuốc chống nấm có niều dạng: viên,kẹo ngậm, dung dịch, kem, thuốc tiêm và viên đặt âm đạo.

Tác dụng

Thuốc chống nấm làm hư hại vách tế bào nấm, thoát ra những yếu tố hoá học cần thiết cho chức năng và phát triển của nấm làm chết tế bào nấm.

Tác dụng phụ

Các thuốc dùng trên da, da đầu, miệng hoặc âm đạo có thể tăng kích thích. Các thuốc chống nấm uống hay tiêm có thể gây các tác dụng nặng như hư gan và thận

48.

THUỐC KHÁNG NỌC ĐỘC NỘI TIẾT TỐ

Thuốc điều trị đặc biệt đối với rắn, bò cạp, nhện hay các con vật có nọc độc khác cắn và chích.

Thuốc kháng nọc độc được bào chế bằng cách được tiêm chủng cho súc vật, thường là ngực, liều nọc độc nhỏ nhưng tăng dần lên. Cách làm này kích thích ngựa sản xuất ra kháng thể trung hoà nọc độc

49.

THUỐC KHÁNG NỘI TIẾT TỐ

Là thuốc ức chế hoạt động của nội tiết tố.

Ví dụ: tamoxifen ức chế tác dụng của nội tiết tố estrogen dùng điều trị ung thư vú.

50.

THUỐC KHÁNG SINH

Thuốc thông dụng

- Aminoglycoside: gentamicine, streptomicin.

- Cephalossporins: cefaclor, cephalecin, cephradine.

- Penicillins: amoxicillin, ampicilin, flucloxacillin, phenoxymethylpenicillin.

- Tetracyllines: doxycylline, minocilline, oxytetracylline, tetracyllin.

- Các thuốc khác: erythromycin, neomycin.

Chú ý: phải báo bác sĩ về bất cứ phản ứng dị ứng với kháng sinh nào có trước.

Nhóm thuốc dùng điều trị nhiễm trùng. Đầu tiên thu được từ nấm (nhóm thứ nhất bắt nguồn từ pennicillium), ngày nay thuốc kháng sinh được tổng hợp.

Các loại thuốc kháng sinh

Nhiều thuốc kháng sinh thuộc 1 trong 4 loại chính sau đây: aminoglycoside, cephalossporins, penicillins và tetracyllines.

Một số thuốc kháng sinh chỉ có tác dụng chống vài loại vi khuẩn. Các thuốc khác, được gọi là kháng sinh phổ rộng, có tác dụng chống nhiều loại vi khuẩn. Sự lựa chọn thuốc kháng sinh dực trên loại vi khuẩn và vị trí nhiễm trùng. Cách lực chọn tốt nhất là cấy cho vi khuẩn mọc rồi kiểm tra nhạy cảm với các loại kháng sinh khác nhau. Kê đơn nhiều loại kháng sinh sẽ làm tăng hiệu quả điều trị và làm giảm nguy cơ kháng thuốc.

Thuốc kháng sinh được dùng điều trị nhiễm trùng. Cũng dùng để tránh nhiễm trùng nếu hệ miễn dịch của bệnh nhân bị suy yếu có nguy cơ bị viêm nội tâm mạc.

Kháng thuốc kháng sinh

Một số vi khuẩn có thể đề kháng với thuốc kháng sinh có tác dụng trước đây. Sự đề kháng xuất hiện nếu vi khuẩn phát triển một biện pháp tăng trưởng không bị phá vỡ bởi kháng sinh, hoặc nếu nó bắt đầu sản xuất một men làm vỡ hoặc vô hiệu hoá thuốc.

Sự kháng thuốc thường có trong điều trị kháng sinh dài ngày hoặc khi bệnh nhân dùng thuốc không đúng như bác sĩ kê đơn. Dùng luân phiên các thuốc kháng sinh có thể điều trị được một số vi khuẩn kháng với thuốc kháng sinh thường được kê đơn.

Tác dụng phụ

Đa số các thuốc kháng sinh có thể gây nôn, tiêu chảy hay nổi mẩn, cũng như các tác dụng phụ riêng của từng loại.

Các thuốc kháng sinh có thể gây mất cân bằng của một vài loại vi khuẩn và nấm trong cơ thể, đưa đến sự tăng sản nấm gây ra nhiễm nấm candida tai, ruột, và âm đạo. Một số người bị dị ứng nặng với thuốc kháng sinh, gây ra phù mặt, ngứa và khó thở. Nếu những triệu chứng này xuất hiện, ngưng dùng thuốc và đến bác sĩ ngay.



51.

THUỐC KHÁNG THỤ THỂ Hiostamione 2

Là một nhóm thuốc làm lành vết loét dạ dày có liên hệ với nhóm thuốc kháng histamine. Các nhóm thuốc này hoạt động bằng cách ngăn chặn hoạt động của hoá chất histamine ở các thụ thể đặc biệt (nằm ở bề mặt của tế bào), ngăn chặn sự giải phóng acid trong dạ dày. Sự giảm acid thúc đầy lành vết loét dạ dày và giảm triệu chứng viêm thực quản.

52.

THUỐC KHÁNG VIRUS

Thuốc thông dụng

Acyclovir, amantadine, idoxuridine, trifluridine, zidovudine.

Nhóm thuốc dùng điều trị nhiễm virus. Virus chỉ sống torng tế bào, và thuốc chống virus sẽ làm hại luôn cả tế bào. Cho đến nay chưa có thuốc nào chứng tỏ được rằng co1the63 diệt được virus và trị lành bệnh.

Tạo miễn dịch quan trọng hơn điều trị bằng thuốc trong nhiễm vius nặng. Tuy nhiên, vài loại thuốc tỏ ra hữu dụng trong việc ngăn chặn nhiễm virus, đặc biệt là virus herpes (gây bệnh mụn rộp). Thuốc giảm virus làm giảm nhẹ bệnh nhưng không loại trừ chúng hoàn toàn, vì thế bệnh có thể tái phát.

Tác dụng

Hầu hết các thuốc chống virus phá huỷ quá trình hoá học cần thiết cho sự phát triển và tăng sản của virus trong tế bào. Một số thuốc ngăn chặn virus xâm nhập vào tế bào.

Tác dụng phụ

Thuốc chống virus dùng điều trị aids có nguy cơ cao gây thiếu máudo làm hại tuỷ xương. Hầu hết các thuốc khác ít gây tác dụng phụ. Kem chống virus có thể gây kích thích da. Các thuốc uống và tiêm có thể gây nôn ói, chóng mặt và hiếm hơn, gây hại thận nếu điều trị kéo dài

53.

THUỐC KHÁNG VIÊM

Thuốc làm giảm triệu chứng và dấu chứng của viêm.

54.

THUỐC KHÁNG VIÊM KHÔNG Steroid

Thuốc thông dụng

Diclofenac, diffunisal, fenoprofen, flurbiprofen, ibuprofen, indomethacin, ketoprofen, mefenamic acid, naproxen, piroxacam.

Nhóm thuốc làm giảm đau và giảm viêm khớp và mô mềm như cơ và dây chằng, viết tắt là KVKS.

KVKS được dùng rộng rãi để giảm các triệu chứng của các loại viêm khớp như viêm khớp dạng thấp, viêm xoang khớp và bệnh gút. Thuốc không giúp chữa khop3i hay làm ngưng quá trình tiến triển của bệnh nhưng giúp cử động của khớp bệnh do giảm đau và giảm cứng khớp.

Kvks còn được dùng để điều trị đau lưng, đau khi có kinh, nhức đầu, đau sau tiểu phẫu và chấn thương mô mềm.

Tác dụng

Kvks làm giảm đau và giảm viêm do ức chế sự tạo ra prostaglandins (chất gây viêm và khời phát sự dẫn truyền tín hiệu đau lên não).

Tác dụng phụ

Đôi khi gây buồn nôn, ăn không tiêu, tiêu chảy và loét dạ dày.

55.

THUỐC KHÁNG ĐÔNG

Thuốc thông dụng

Heparin, warfarin.

Chú ý: nhiều thuốc như aspirine và rượu có thể làm tăng nguy cơ chảy máu bất thừơng của thuốc kháng đông. Luôn luôn hỏi bác sĩ trước khi dùng bất cứ thuốc nào khác trong thời gian dùng thuốc kháng đông.

Nhóm thuốc điều trị và tránh cục máu đông bất thường. Được dùng điều trị huyết khối, huyết khối hoặc cơn thiếu máu thoáng qua. Thuốc kháng đông cũng được kê đơn để tránh đông máu bất thường sau cuộc đại phẫu. (đặc biệt là thay van tim) hay trong lúc thẩm phân máu (xem thẩm phân máu).

Tác dụng

Heparin gia tăng hoạt động của antithrombin iii, một men ức chế hoạt động của các men khác – là yếu tố đông máu – cần thiết để thành lập cụa máu đông. Thuốc này được đưa vào bằng đường tiêm và có tác dụng sau một vài giờ. Các thuốc kháng đông khác thì được cho bằng đường uống và có tác dụng lâu hơn. Các thuốc kháng đông làm giảm sự sản xuất một vài yếu tố đông máu.

Bằng cơ chế phá vỡ cục máu đông, các thuốc kháng đông ngăn chặn sự hình thành một cục máu đông bất thường. Khi cục máu đông đã được hình thành thì thuốc kháng đông làm ngưng tiến triển và giảm nguy cơ huyết tắc. Tuy nhiên các thuốc kháng đông không hoà tan cục máu đã hình thành mà phải cần thuốc làm tan máu đông

56.

THUỐC KHÁNG ĐỘC TỐ

Loại thuốc có chứa kháng thể, có thể kết hợp và trung hoà tác tác động của độc tố đặc hiệu do vi khuẩn phóng thích vào dòng máu (như uốn ván và bạch hầu).

Kháng độc tố được điều chế từ máu súc vật hay máu người đã tiếp xúc với độc tố đặc biệt (hoặc tiêm chủng hoặc do bị nhiễm bệnh) và nhờ vậy sản xuất kháng thể chống độc tố.

Thuốc kháng độc tố thường được tiêm bắp, dưới sự giám sát của bác sĩ. Thỉnh thoảng có thể gây ra dị ứng, hiếm hơn, gây ra sốc phản vệ, cần điều trị cấp cứu.

57.

THUỐC KÍCH DỤC

Các thuốc gây kích thích sự ham muốn tình dục và làm tăng việc thực hiện tình dục. Thuật ngữ được gọi tên theo Aphrodite, vị thần cổ Hy Lạp về tình yêu, sắc đẹp và sinh sản. Các thuốc khác nhau được dùng nhiều thế kỷ như là “liều thuốc tình yêu” gồm: mật ong, sâm, gừng, strychnine, sừng tê giác, sò, và nhiều loại khác. Thực ra không có chất nào có hiệu quả kích dục được chứng minh, mặc dù nhiều thứ có thể gây ra kết quả như ý nếu người sử dụng tin tưởng rằng nó sẽ có tác dụng. Rượu có thể làm tăng ham muốn tình dục bằng cách làm mất ức chế, nhưng lượng rượu cao trong máu có thể cản trở việc thực hiện tình dục. Có lẽ chất kích dục được biết rõ nhất là ruồi tây ban nha, bọ cánh cứng, có phấn thuộc loài lytta vessicatoria. Hoạt chất cantharidin, kích thích niêm mạc bàng quang và niệu đạo và trong vài trường hợp có thể gây ra chứng cương dương vật. Ruồi tây ban nha có nguy hiểm tiềm ẩn, đã gây chết vài người.

Các chất kích dục khác được dùng là Marijuana, Yohimbine ở tây phi, và Amylnitrite. Không có bằng chứng khoa học nào chứng tỏ các chất này có hiệu quả, Amylnitrit còn có thể làm giảm huyết áp. Nội tiết tố Testosteron đôi khi được xem như chất kích dục. Ở đàn ông bình thường, nó không có sự tác dụng trên sự ham muốn hay sức mạnh tình dục mà làm giảm sự sinh tinh trùng. Với những người đàn ông thiếu testosteron, nội tiết tố này có thể hoàn lại cả tình dục và sức mạnh

58.

THUỐC KÍCH THÍCH

Thuốc thông dụng

- Thuốc kích thích hệ thần kinh trung ương: caffeine, descamphetamine

- Thuốc kích thích hô hấp: ammophyline, nikethamide, theophylline

Là những thuốc tăng hoạt động của não bằng cách giải phóng neropinephrine, một loại dẫn truyền thần kinh (hoá chất được giải phòng từ đầu tận cùng dây thần kinh).

Phân loại

Có hai nhóm chính:

- Thuốc kích thích hệ thần kinh trung ương (thuốc amphetamine) làm giảm sự uể oải, làm tăng sự tỉnh táo do tác động của thuốc lên hệ thống lưới hoạt động trong cuống não.

- Thuốc kích thích hô hấp hoạt động trên trung tâm hô hấp ở cuống não.

Thuốc kích thích thần kinh điều trị bệnh ngủ lịm (ngủ quá nhiều), điều trị tăng hoạt động ở trẻ em, thuốc kích thích thần kinh ức chế cảm giác ngon miệng nhưng hiện nay người ta ít dùng chúng để điều trị chứng béo phì.

Mặc dù có nhiều tác dụng phụ, thuốc kích thích thần kinh thường bị lạm dụng vì ngừa sự mệt mỏi, làm tăng sự tỉnh táo và sự tự tin. Các thầy thuốc và các tổ chức thể thao cấm vận động viên sử dụng loại thuốc này.

Tác dụng phụ

Run rẩy, đổ mồ hôi, hồi hộp, dễ kích thích, rối loạn giấc ngủ, ảo tưởng và co giật.

Dùng thuốc lâu dài sẽ bị lờn thuốc (cần liều cao hơn để đạt được tác dụng tương tự) và lệ thuộc thuốc (có triệu chứng khó chịu khi ngưng dùng thuốc)

59.

THUỐC KÍCH THÍCH MIỄN DỊCH

Là các thuốc làm tăng hiệu quả của hệ miễn dịch cơ thể (phòng vệ tự nhiên chống lại nhiễm trùng và tế bào bình thường). Các thuốc này gồm có thuốc chủng, interferon và interleukin-2, dùng điều trị nhiễm virus và một loại bệnh ung thư.

Thuốc hỗ trợ kích thích miễn dịch làm tăng tác dụng của thuốc chủng là kích thích hệ miễn dịch, do đó thường được cho thêm vào với thuốc chủng ngừa. Ví dụ aluminium phosphate làm tăng tác dụng của thuốc chủng ngừa uốn ván

60.

THUỐC LONG ĐỜM

Là thuốc làm đờm loãng ra, giúp ho khạc đờm dễ dàng hơn, ví dụ như thuốc acetyl-cystein.tốc độ chậm, đều đặn, do đó không cần phải uống nhiều lần.

61.

THUỐC LÀM MỀM DA

Là một chất giống như dầu oliu, mỡ lông cừu hoặc dầu thô có tác dụng làm mềm và láng da khi bôi lên da, mắt và màng nhầy (ví dụ: niêm mạc mũi, miệng). Khi tạo thành một lớp mỏng dầu, chất làm mềm da chống lại sự mất nước ở bề mặt do đó có tác dụng làm ẩm. Thuốc làm mềm da được dùng dưới dạng kem, thuốc mỡ, dạng xịt và thuốc nhét

62.

THUỐC LÀM RỤNG LÔNG TÓC

Là tác nhân hóa học làm rụng lông tóc ví dụ như Barium sulfide (dạng thuốc mỡ). Thuốc làm rụng lông được dùng để loại bỏ lông vì lý do thẩm mỹ, hoặc để điều trị chứng rậm lông.

Thuốc chỉ có tác dụng lên lông tại bề mặt da không gây ảnh hưởng đến chân lông do đó không làm rụng lông vĩnh viễn.

Thuốc có thể gây phản ứng phụ như viêm và sưng. Do đó trước tiên phải dùng trên một vùng da nhỏ( không nên thử trên da mặt). Không nên dùng sau khi tắm nước nóng hoặc vòi hoa sen vì nhiệt làm tăng vận tốc máu đến da và làm nở lỗ chân lông nên có thể làm tăng lượng thuốc hấp thu vào cơ thể.

63.

THUỐC LÀM TAN CỤC MÁU ĐÔNG

Một nhóm thuốc, đôi khi cũng gọi là thuốc phân huỷ fibrin, dùng làm tan cục máu đông gặp trong huyết khối, thuyên tắc, nhồi máu cơ tim.

Thuốc này hoạt động bằng cách tăng lượng plasmin trong máu (một men thuỷ phân fibrn, thành phần chính của cục máu đông).

Thuốc thông dụng

Streptokinase và chất kích hoạt Plasminogen ở mô.

Khi điều trị bằng thuốc chống đông cần theo dõi cẩn thận vì có nguy cơ chảy máu bất thường. Phản ứng, dị ứng gây phát ban khó thở.

64.

THUỐC LỢI TIỂU

Thuốc thông dụng

- Nóm Thiazide: Bendroflumethiazide, Chlorthalodone, Hydrochlorothiazide.

- Nhóm tác dụng lên quai thận: Ethacrynic acid, Furosemide.

- Nhóm giữ K+ : Amiloride, Spironolactone, Triamterene.

Là nhóm các thuốc giúp loại bỏ nước dư ra khỏi cơ thể bằng cách tăng số lượng nước tiểu. Tát cả thuốc lợi tiểu đều tác dụng lên thận, nơi giữ vai trò quan trọng trong việc điều hoà lượng nước cơ thể.

Các loại thuốc lợi tiểu khác nhau khác biệt nhau một cách rõ ràng về dược động vật học và kiểu tác dụng.

- Thuốc lợi tiểu nhóm thiazide: những thuốc này gây lợi tiểu vừa (tăng sản xuất nước tiểu) và thích hợp cho việc dùng thời gian dài.

- Thuốc lợi tiểu quai thận: tác dụng lên vùng thận được gọi là quai Henle. Đây là những thuốc tác dụng nhanh – mạnh, đặc biệt khi được dùng bằng đường tiêm. Thuốc lợi tiều quai thận đặc biệt hữu dụng đối với trường hợp cấp cứu như suy tim.

- Thuốc lợi tiểu chứa K+ : thuốc này được dùng kèm với nhóm thiazide và nhóm lợi tiểu quai thận, vì cả hai làm thiếu K+.

- Thuốc ức chế men carbonic hydrase: thuốc này gây chẹn tác dụng của carbohydrase ( một loại men tác dụng lên số lượng ion bicarbonate HCO3 trong máu); thuốc này gây lợi tiểu vừa phải nhưng chỉ tác dụng trong thời gian ngắn.

- Thuốc lợi tiểu thẩm thấu: có tác dụng lợi tiểu mạnh được dùng để duy trì sự sản xuất nước tiểu sau chấn thương nặng hoặc phẫu thuật lớn.

Lý do dùng thuốc

Bằng cách tăng bài tiết nước tiểu, thuốc lợi tiểu làm giảm lượng nước trong hệ thống tuần hoàn và do đó làm giảm phù (phù gây khó thở, sưng mắt cá chân ở người suy tim, hội chứng thận hư và suy gan). Thuốc lợi tiểu còn làm giảm hiện tượng sưng và căng vú trong những ngày trước khi có kinh.

Thuốc lợi tiểu làm giảm áp suất máu và do đó được dùng để điều trị bệnh cao huyết áp. Thuốc ức chế carbonic anhydrase đôi khi được dùng điều trị tăng nhãn áp.

Tác dụng phụ

Thuốc có thể gây mất cân bàng hoá học trong máu, thường nhất là khi làm giảm K+ huyết. Triệu chứng của tình trạng này là yếu ớt, lú lẫn và đánh trống ngực . điều trị tình trạng thường gồm bổ sung K+ hoặc dùng thuốc lợi tiểu dư K+ (ăn nhiều trái cây và rau quả).

Vài loại thuốc lợi tiểu có thể làm tăng acid uric trong máu và do đó làm tăng nguy cơ bị bệnh Gút (bệnh thống phong). Vài loại thuốc lợi tiểu gây tăng đường trong máu, do đó có thể làm nặng tình trạng tiểu đường.

65.

THUỐC MỠ

Thuốc được trình bày ở dạng bôi da, có tính nhờn. Thuốc mỡ được dùng để áp thuốc lên một vùng da hay làm một chất bảo vệ, ngừa tình trạng khô da vì hàm lượng cao, có tác dụng giữ ẩm.

Hầu hết các thuốc mỡ đều chứa sáp và có tác dụng làm mềm.

66.

THUỐC NGHIỆN

Cảm giác bắt buộc tiếp tục dùng thuốc hoặc để tạo ra một hiệu quả mong muốn do thuốc,, hoặc để ngăn chặn các tác dụng đòi thuốc khi không có thuốc.

Nghiện thuốc có hai dạng : tâm thần và thể xác .

Một người nghiện thuốc dạng tâm thần nếu họ trải qua cảm giác ham muốn hoặc kiệt sức về tinh thần khi ngừng thuốc. Một người nghiện thuốc dạng thể xác, cơ thể của họ đã quen với hiện diện của thuốc. Sẽ gây ra hội chứng ngưng thuốc khi ngưng dùng thuốc. Ngưng dùng thuốc thường gây nên một tình trạng suy sụp tâm lý và thể xác nặng nề.

Nguyên nhân

Nghiện thuốc là một kết quả của một quá trình thường xuyên dùng ( có hoặc không dùng thuốc quá liều). Nhiều người nghiện nicotin trong thuốc lá, nghiện cafein trong trà và cà phê, nghiện rượu, nghiện thuốc an thần.

Nghiện hay gặp nhất đối với các loại thuốc làm thay đổi tâm tính và hành vi con người. Vận tốc tác dụng của thuốc trên cơ thể là một yếu tố góp phần quan trọng. Ví dụ: do tác dụng nhanh chóng của thuốc khi dùng đường tiêm tĩnh mạch, nên bệnh nhân đã lạm dụng đường dùng thuốc này dù không cần thiết; từ đó sinh ra thói quen dùng thuốc bằng đường tiêm.

Một số người dễ bị nghiện hơn người khác. Các yếu tố góp phần gây nghiện là; áp lực bè bạn, đồng nghiệp. Yếu tố môi trường như nghèo nàn thất nghiệp, buồn lo âu, thuốc dễ mua. Di truyền cũng là một yếu tố góp phần khác.

Triệu chứng

Phản ứng do ngưng thuốc thể nhẹ: ngáp, hắt hơi, chảy mũi, chảy nước mắt, đổ mồ hôi. Các phản ứng nặng hơn: tiêu chảy, ói, run, vọp bẻ, lú lẩn, hiếm hơn có thể bị hôn mê, động kinh. Các triệu chứng giảm khi dùng thuốc trở lại.

Triiệu chứng ngưng thuốc xảy ra là do cơ thể đã quen với sự hiện diện của chất thuốc, giảm phóng thích các chất hoá học tự nhiên. Ví dụ: nicotin ảnh hưởng đến việc sản xuất epinephrin vá các chất tương tự . khi ngưng dùng thuốc, các triệu chứng do thiếu hụt các chất hoá học tự nhiên này sẽ biểu lộ ra ngoài.

Biến chứng

Nghiện thuốc có thể gây ra các bệnh thể xác như bệnh tim, phổi (do hút thuốc lá), bệnh gan (do uống quá nhiều rượu), hoặc gây ra các vấn đề về tâm thần như lo lắng, trầm cảm thường thường xuyên do ngưng thuốc. Nghiện xảy ra cùng lúc với dung nạp thuốc, khi đó cần phải tăng liều cao hơn, để đạt được hiệu quả mong muốn.

Các biến chứng là hậu quả gián tiếp của dự nghiện thuốc như: suy yếu và chết do viêm gan virus hoặc AIDS khi dùng thuốc bằng đường tiêm chích và dùng kim dơ. Một số trường hợp dùng quá liều do nhầm lẫn hoặc do dùng những loại tinh khiết hơn hoặc mạnh hơn loại vẫn đang sử dụng. Về mặt xã hội,việc nghiện thuốc có thể gây ra các hoạt động phạm pháp để có tiền mua thuốc.

Điều trị

Bệnh nhận được cho giảm liều, có giám sát. Hoặc có thể dùng các thuốc ít hại hơn, kết hợp điều trị các chứng do ngưng thuốc.

Tiên lượng

Kết quả điều trị phụ thuộc vào sự cố gắng của người nghiện. Tình trạng có thể trở lại như cũ khi người cai nghiện quay về với môi trường trước kia.

67.

THUỐC NGỦ

Là một nhóm thuốc dùng để điều trị bệnh mất ngủ, thường dùng nhất là benzodiazepine, thuốc kháng sinh Hiatamin, thuốc chống trầm cảm Hydrate Chloral.

Thuốc ngủ được dùng để khôi phục lại thói quen của giấc ngủ sau khi đã tự gây ngủ không kết quả (ví dụ tắm nước ấm hoặc uống sữa nóng trước khi ngủ).

Những loại thuốc ngủ trên gây ngủ do làm giảm hoạt động của tế bào thần kinh trong não.

Cách dùng

- Nên dùng liều thấp nhất có hiệu quả trong một thời gian ngắn nhất, nói chung không dùng lâu hơn 3 tuần, không dùng mỗi đêm.

- Thuốc ngủ có thể làm lơ ngơ, không ổn định và mất tập trung khi thức giấc. Các tác dụng này có thể nguy hiểm cho người già vì dễ té ngã và những người đang điều khiển máy móc hoặc lái xe.

Dùng thuốc ngủ lâu ngày gây lờn thuốc (dùng một liều cao hơn để có kết quả như nhau) và lệ thuộc thuốc (gây triệu chứng uể oải khi ngưng dùng thuốc).
Phần trước | Phần sau Xem nhanh: