Cỡ chữ: Vừa | Lớn | Lớn hơn

Châm cứu học

T.T.Thích Tâm Ấn

Xem nhanh:

Chương 14

TÚC THIẾU DƯƠNG ĐỞM KINH

(Méridien du Vésicule Billiaire) (12 huyệt x 2)

SỰ LƯU HÀNH CỦA KINH HUYỆT

Kinh này giao tiếp với Thủ Thiếu dưong, khởi từ huyệt Đồng tử giao chạy lên ngang qua huyệt Ty Trúc không (Thủ thiếu ương), đến góc đầu huyệt Đầu uy. Nơi dây thần kinh chạy trở xuống ngang huyệt Huyền lô, huyệt Huyền ly ra phía sau huyệt Khúc tân, vây quanh huyệt Suất giác qua mạch Thủ thiếu dương huyệt Giác tôn. Từ nơi này, thần kinh chạy đến huyệt Thiên xung, xuống dương bạch qua bên đỉnh đầu huyệt Lâm khấp đến huyệt Não không, xuống huyệt Phong trì, huyệt Kiên tỉnh, giao tiếp phía sau mạch Thủ dương minh, qua Đốc mạch huyệt Đại chùy hội với mạch Thủ thái dương nơi huyệt Bỉnh Phong, phía trước huyệt Khuyết bồn.

Có một nhánh thần kinh từ sau lổ tai nơi huyệt Như Giang chạy qua Thủ thiếu dương nơi huyệt Ế phong vào trong lổ tai qua huyệt Thính cung (Thủ thái dương) đến trước lổ tai nơi huyệt Thính hội vào khu vực huyệt Đồng tử giao.

Phía ngoài khoé mắt chạy ra một đường mạch xuống kinh Túc dương minh huyệt Đạt nghinh hợp với Kinh thủ thiếu dương đến huyệt Giáp xa (Túc dương minh)

Đồng thời phía trước có 1 đường mạch hội ở huyệt Khuyết bồn chạy vào ngực nơi Thủ khuyết âm huyệt Thiên trì xuyên qua hoành cách mạc tại Túc khuyết âm, huyệt kỳ môn liên lạc với can tạng và trở vào bộ phận của mật.

Nơi hông có đường mạch từ kinh chương môn (tức khuyết âm) chạy xuống từ túc dương minh nơi huyệt khí xung chạy ra ngoài da nơi âm giao hợp với Túc khuyết âm và các khớp xương nơi huyệt Hoàn khiêu.

Lại có một đường mạch từ huyệt Khuyết bồn chạy đến trước nách huyệt Uyên dịch đến gân Nhựt Nguyệt ra phía sau huyệt Kinh Môn đến trước và chạy xuống huyệt Đái mạch, huyệt Ngũ xu, huyệt Duy đạo, huyệt Cự giao chạy ra phía sau trên túc Thái dương huyệt Thứ giao, huyệt Trung giao, huyệt hạ giao. Có một thần kinh ở phía ngoài hội ở huyệt Hoàn khiêu chạy xuống huyệt Phong thị, huyệt Trung độc đến ngoài khớp xương đầu gối huyệt Dương quan.

Từ xương phụ cốt phía trước huyệt Dương lăng tuyền xuống huyệt Dương giao, huyệt Ngoại kheo, huyệt Khúc trích xuống huyệt Quang minh, huyệt Phụ dương, huyệt Huyền chung. Thần kinh nơi đây chạy ra ngoài mắt cá huyệt Kheo khư đến trên lưng bàn chân huyệt Lâm khấp, huyệt Ngủ hội đến ngón chân út và ngón chân thứ tư nơi có cục xương nỗi lên huyệt Hiệp Khê. Đến phía ngoài ngón chân thứ tư nơi huyệt Khiếu âm thì dứt.

Có một đường mạch riêng từ huyệt Lâm khấp chạy ra đến ngón cái nơi giữa móng chân hợp với Kinh túc khuyết âm.

1.- HUYỆT ĐỒNG TỬ GIAO.

Huyệt này có tên Thái dương, Tuyền quan, Hậu khúc. Nơi hội các kinh mạch Thủ thiếu dương tiểu trường, Thủ thái dương tam tiêu, Túc Thiếu dương Đởm.

a) Phương pháp tìm huyệt:

Bảo người bệnh nhắm mắt, nơi cuối cùng khoé mắt phía ngoài, dùng tay nhận xuống chung quanh có cảm giác đau là vị trí của huyệt.

b) Phương pháp châm cứu:

Châm sâu từ 2 đến 3 phân, mũi kim hướng phía ngoài. Đốt từ 2 đến 3 liều.

c) Chủ trị:

Tất cả bịnh về mắt, sưng giác mạc. Nhãn cầu sung huyết (mắt ngứa, khoé mắt nhức, nước mắc sống nhiều). Nhức Tam xoa Thần kinh. Nhan diện Thân kinh co rút và tê. Mắt méo.

d) Phương pháp hợp trị:

Hợp với huyệt Đầu Duy, huyệt Hiệp cốc trị đầu đau 1 bên.

e) Tham khảo các sách:

Sách Đồ dực nói: Hợp với huyệt Thiểu trạch trị đàn bà sưng vú.

Sách đông Y Bửu Giám và sách Châm cứu thực hành (Nhựt) nói: Huyệt này không nên đốt.

Sách Traité d’Acupuncture nói: huyệt này trị mắt sưng nhức hay giựt.

2. Huyệt Đầu Duy:

Nơi hội Túc Thiếu dương đởm mạch và mạch Dương duy.

a) Phương pháp tìm huyệt:

Ngồi ngay người nơi giữa chân mày lên mé tóc 5 phân, ngang ra ngoài 4 tấc 5, miệng nhai có động mạch là vị trí của huyệt.

b) Phương pháp châm cứu:

Châm sâu từ 5 đến 7 phân, mũi kim hướng xuống. Cấm đốt.

c) Chủ trị:

Sung huyết ở não, thần kinh ở trán nhức (đầu mắt nhức không chịu nỗi) Kết mạc viêm chảy mủ ( ra gió chảy nước mắt)

d) Phương pháp phối hợp:

Hợp với huyệt Toán trúc trị nhức đầu, mắt đau. Hợp với huyệt Lâm khấp trị chảy nước mắt. Hợp với huyệt Thái dương, huyệt Quang minh, huyệt Túc lâm khấp trị 1 bên đầu nhức.

e) Tham khảo các sách:

Các sách: Hòa Hán Tam Tài Đồ, Châm cứu Đại Thành, Nhập môn, Thiên kim, Giáp ất kinh đều nói cấm châm.

Sách Châm cứu Tụ Anh nói: huyệt này trị nhức đầu, thấy không rõ.

Phú Bá Chứng nói: Chảy nước mắt sống nên châm huyệt này với huyệt Lâm khấp.

Sách Acupuncture của H.Voisin nói: huyệt này trị dư máu, ra gió hay chảy nước mắt sống. Sách khoa học Châm cứu (Nhựt) nói: Huyệt này trị mắt nhức, đầu đau 1 bên.

g) Nhận xét chung:

Đầu đau hai bên châm huyệt này với huyệt Toán trúc, huyệt Thái dương lại châm thêm huyệt Túc tam lý, huyệt Quang minh, huyệt Hiệp cốc, khi chuyển kim thì đầu hết nhức.

Huyệt Đầu duy có công năng trị các chứng bệnh thuộc về mắt, đuổi phong tà làm giảm nóng.

3. HUYỆT LÂM KHẤP

Nơi hội các mạch Thủ thái dươngbàng quang, Thiếu âm đởm và Dương duy.

a) Phương pháp tìm huyệt:

Từ huyệt Dương bạch thẳng lên mí tóc 5 phân là vị trí của huyệt.

b) Phương pháp châm cứu:

Châm sâu từ 3 đến 5 phân, mũi kim day lên hoặc day xuống đâm vào. Đốt 3 liều.

c) Chủ trị:

Giác mạc viêm, chảy nước mắt sống nhiều. Sung huyết nơi vành mắt. Trúng phong, nghẹt mũi.

d) Tham khảo các sách:

Sách Y Học Chỉ giám nói: Huyệt này trị lỗ mũi nghẹt, khóe mắt sưng.

Sách Thiên Kim nói: Bịnh sốt rét phát cử lúc mặt trời lặn nên dùng huyệt này.

Sách Acupuncture của H. Goux nói: Tất cả bịnh về mắt nên dùng huyệt này làm chủ.

e) Nhận xét chung: Nhận mạnh nơi huyệt Lâm khấp có cảm giác đau là mật có sạn.

Tất cả bệnh về mắt, trước nên châm huyệt Hiệp Cốc sau châm huyệt này, vì mật và gan có sự liên hệ mật thiết với nhau. Mắt là lổ thông kinh lạc của gan, nên những bệnh về mắt lấy huyệt này làm chủ.

4. HUYỆT PHONG TRÌ

Nơi hội 4 mạch: Thủ thiếu dương Tam tiêu, Túc thiếu dương đởm, dương duy, dương kiều.

a) Phương pháp tìm huyệt:

Dùng tay đè phí dưới huyệt Não không, có một lổ hủng là vị trí của huyệt.

b) Phương pháp châm cứu:

Châm sâu 5 đến 8 phân, hơ nóng 10 phút, có thể dùng kim ba khía đâm cho ra máu .

c) Chủ trị:

Tất cả bệnh về não (Trúng phong nhức 1 bên đầu, choáng váng) Bịnh tai, mũi, Bệnh Yết hầu, bại nửa thân, nhức lưng, thần kinh suy nhược mê tẩu thần kinh và giao cảm, thần kinh dị thường, lưng gù.

d) Phương pháp phối hợp:

Hợp với huyệt Hoàn khiêu, huyệt Gian sử trị bệnh sốt rét. Hợp với huyệt Tuyệt cốc trị bịnh gù lưng.

e) Tham khảo các sách:

Sách Thiên Kim nói: Các bứu, hạch ở cổ đốt 100 liều.

Phú Tịch hoằng nói: Huyệt Phong phủ, huyệt Phong Trì trị thương hàn bá bịnh.

Ca Ngọc Long nói: Hai hoặc một bên đầu nhức, cổ có đàm châm huyệt Phong trì, nếu không đàm châm huyệt Hiệp cốc.

Phú Thông huyền nói: Đầu choáng váng, mắt xây xẩm nên châm huyệt này.

Sách Châm cứu chỉ nam của Nhất Lang (Nhật) nói: Huyệt này trị nhức đầu mắt mờ.

Sách Théorie et Pratique de l’acupuncture nói: - Sưng cuống họng, đau thần kinh ở não nên dùng huyệt này.

g) Nhận xét chung:

Hai tay run, đầu và mắt choángváng xây xẩm phần nhiêu tại gan, vì gan và mật liên hệ với nhau nên châm huyệt này trị các chứng kể trên cùng chứng đau lưng, vai nhức. Chứng thiệt nên châm, chứng hư nên đốt. Nóng nhiều hoặc não sung huếyt, gặp trường hợp này dùng kim ba khía đâm cho ra máu rất hay. Có thói quen hay nhức đầu, nên phối hợp với huyệt Đại trử, huyệt Hiệp cốc,  Thân mạch để kích thích sự phản xạ có tác dụng trấn định thần kinh làm hết bịnh.

5. HUYỆT KIÊN TỈNH:

Huyệt này có tên huyệt Bác tỉnh, nơi hội các mạch Thủ thiếu dương Tam tiêu, Túc thiếu dương đởm, Túc dương minh vị, Dương duy.

a)      Phương pháp tìm huyệt:

Giữa huyệt Đại chùy và huyệt Kiên ngung trên huyệt Khuyết bồn. Dùng tay trái đè lên vai phải hoặc tay phải đè lên vai trái. Nơi đầu ngón tay giữa có lổ hủng xuống là vị trí của huyệt.

b)      Châm sâu 5 phân (nếu quá sâu người bịnh sẽ bị chóng mặt) Hơ nóng 10 phút.

c)      Chủ trị:

Thần kinh ở não suy nhược. Bại nữa thân, trúng phong đàm chận không nói được, vai, lưng nhức, thần kinh ở cổ tê (gân rút) không day qua lại được. Chót phổi sưng. Tay chân lạnh. Hạch ở vú nghẹt sưng, não sung huyết, não thiếu máu. Sau khi sanh, tử cung ra máu. Đau tràng hạt. Dạ dày lộn ngược.

d)      Phương pháp phối hợp:

Hợp với huyệt Khúc trì trị cánh tay nhức. Hợp với huyệt Trung Uyển, huyệt Túc Tam lý, huyệt Khúc trì, huyệt Tam âm giao, huyệt Thiên Đột, trị sưng giáp tạng tuyến (Bứu sưng ở cổ ) Hợp với huyệt Tam lý, huyệt Dương lăngtuyền, trị 2 chân yếu sưng nhức.

e)      Tham khảo các sách:

Sách Đồng Nhân nói: Huyệt này trị lao tổn, cổ day qua lại không được, haitay không đưa đến đầu hoặc vì bị thương, xương lưng nhức, phía trên của hai chân thường nhức và yếu (châm sâu 5 phân) . đàn bà sau khi hư thai tay chân lạnh, châm huyệt Kiên tỉnh hết liền. Nên đốt hay hơn châm (đốt 7 liều)

Sách Nho môn sự thân nói: Sau khi sanh, vú sưng không bớt, nên châm hai huệyt này.

Phú Tịch Hoằng nói: Nếu châm huyệt nầy nên hợp với huyệt Túc Tam Lý, nếu không, khí huyết chưa được lưu thông.

Phú Bá chứng nói: Huyệt này trị Ung thư ở vú rất hay.

Sách Hán Y Dược Thần Phương nói: Đốt huyệt này nhức răng hàm dưới rất hay.

Sách Vạn bệnh hồi xuân nói: Bịnh ợ chua đốt huyệt này 3 liều thì hết.

Sách Châm Cứu thực hành (Nhật) nói: Thần kinh ở não suy nhược, não thiếu máu nên châm huyệt này.

Sách Traité d’Acupuncture nói: vú sưng, trúng phong, cấm khẩu đàm khò khè nên dùng huyệt này.

g) Nhận xét chung:

Huyệt này là nơi hội họp 4 Kinh nên có công năng trấn an gan, giáng ợ chua ở dạ dày, trừ phong, khử đàm, trị vai, lưng đau nhức, cổ đau, nhức đầu, răng, nhức một bên đầu châm huyệt này 1 lần hết liền. Có thai không nên châm.

Không nên châm huyệt này quá 1 tấc 6 phân vì có thể trúng nhằm thần kinh dạ dày sanh chứng thiếu máu ở não làm xây xẩm. Nếu gặp trường hợp này nên châm huyệt Túc tam lý để trị.

Nơi Đởm kinh có 1 đường mạch chạy từ dưới lên trên, liên lạc ở ngực bên bộ phận vú nên có ảnh hưởng làm cho vú bớt nóng, bớt sưng. Nhứt là vú có mụt ung chứa mủ , dùng huyệt này trị rất hay.

Phàm ngón tay giữa tê cứng là hiện tượng sắp bị trúng gió. Nên đốt huyệt này và huyệt Khúc trì từ 200 đến 400 liều để ngừa trước.

6. HUYỆT HOÀN KHIÊU.

Huyệt này có tên là Hoàn cốc, Bể xu, khoan cốt, nơi Túc thiếu dương đởm mạch phát ra và nơi hội hai mạch Túc thiếu dương và Thái dương.

a) Phương pháp tìm huyệt:

Nằm nghiêng chân trên co lại, chân dưới duỗi thẳng, phía ngoài khớp xương đùi có lằn chỉ ngang, ở đầu chỉ này có cục xương cứng, nhận phía dưới đầu xương này có cảm giác tê là vị trí của huyệt.

b) Phương pháp châm cứu:

Châm 1 tấc 5. Hơ nóng 20 phút. Đốt 3 liều đến 5 liều.

c) Chủ trị:

Thần kinh tọa cốt nhức, Bản chẩn, bại nửa thân. Chân yếu Gân ở lưng và vế sưng.

d) Phương pháp phối hợp:

Hợp với huyệt Phong trì, huyệt Gian sử trị phong lạnh, làm đùi và đầu gối tê.

Hợp với huyệt Cự giao, huyệt Ủy trung, trị phong thấp làm tê bắp chân.

Hợp với huyệt Dương lăng, huyệt Hậu khê, trị phong thấp làm hai chân tê.

Hợp với huyệt Ủy trung, huyệt Côn lôn trị nhức lưng.

g)      Tham khảo các sách:

Ca Thắng Ngọc nói: đùi đau không đi được nên hợp với huyệt Phong thị, huyệt Âm thị . Huyệt Cự giao trị đùi bị trúng phong, hợp với huyệt Ủy trung làm ra hết máu độc.

Phú tiêu u nói: Ông Hoa Đà châm với huyệt Huyền Chung trị chứng chân bại nằm 1 chỗ, trị xong đứng dậy đi được.

Phú Bá chứng nói: Hợp với huyệt Hậu Khê, trị bắp chân nhức.

Sách Acupuncture của H.Voisin nói: huyệt này trị bắp chân đau hay tê thấp.

Sách Khoa học Châm Cứu (Nhật) nói: Chân lạnh hoặc ban chân lấy huyệt này làm chủ.

Sách Thiên Tinh Thập Nhị huyệt nói: Gió lạnh làm tê thấp khắp mình như giây trói, đùi nhức rên la, châm huyệt này chốc lát hết liền.

Sách Đại Thành nói: Huyệt này nếu nhức, thì nơi xương bị chứng Ung thư.

Sách Thiên Kim nói: ông nhơn Thọ Cung bị chứng Khước khí (chân yếu đi không được). Ông Bình Huyền Phụng Sắc trị bệnh này, ông châm huyệt Hoàn Khiêu, huyệt Dương Lăng tuyền, huyệt Cự hư, huyệt Hạ liêm, huyệt Dương phụ. Châm 4 huyệt này bệnh nhân đi đứng được như thường.

g) Nhận xét chung:

Huyệt Hoàn Khiêu thuộc Đởm kinh, hội với kinh Bàng quang . Căn cứ theo vị trí kinh lạc mà nói thì huyệt này chủ yếu trị sau khi trúng phong sanh bại nửa thân. Trước nên châm bên nửa còn mạnh, sau mới châm bên có bệnh bại.

Thần kinh tọa cốt nhức nên phối hợp với các huyệt Phu dương, huyệt Thứ giao, huyệt Đại trường du, huyệt Ủy trung, huyệt Thửs phò, huyệt Thừa sơn, huyệt Dương Lăng tuyền. Cách 1 ngày châm và đốt huyệt Côn Lôn từ 7 đến 9 liều để khí huyết lưu thông và dứt các chứng nhức mỏi.

7. HUYỆT PHONG THỊ

a) Phương pháp tìm huyệt;

Đứng ngay, hay tay dủi xuống, nơi đầu ngón tay giữa là vị trí của huyệt.

b) Phương pháp châm cứu :

Châm sâu 5 đến 8 phân. Hơ nóng 20 phút. Đốt từ 3 đến 5 liều.

c) Chủ trị:

Trúng gió, thần kinh ở chân nhức hay tê. Ngứa khắp mình. Đùi lạnh và tê.

d) Phương pháp phối hợp:

Hợp với huyệt Phong thị trị đùi và chân yếu. Hợp với huyệt Kiên ngung, huyệt Khúc trì trị chân tê.

e) Tham khảo các sách:

Sách Théorie et pratique de l’acupuncture nói: huyệt Phong thị trị phong hủi, khắp mình đều ngứa.

Sách Thiên Kim, Sách Ngoại đài đều nói: huyệt này trị khước khí (hai chân ốm teo lại).

Phú Ngọc Long nói: hợp với huyệt Âm thị trị đùi và đầu yếu.

Kinh Thần nông nói: Huyệt pHong thị trị bại nửa thân, hai chân chân lạnh nhức nên đốt 21 liều.

Sách đông Phương Châm cứu học (Nhật) nói: Xương cốt làm đau đi không được, châm huyệt này.

g) Nhận xét chung:

Huyệt Phong thị là kỳ huyệt. Sách Đại thành  cho huyệt này thuộc Đởm kinh, nên thần kinh tọa cốt nhức đau hợp với các huyệt Hoàng khiêu, huyệt Thừa sơn để trị. Vì huyệt này tụ hội các chứng phong nên có công năng đặc biệt đuổi phong thấp làm cho khí huyết lưu thông.

8. HUYỆT DƯƠNG LĂNG TUYỀN

Đó là nơi hội của các gân. Túc thái dương đởm mạch chạy vào thuộc thổ huyệt.

a) Phương pháp tìm huyệt:

Ngồi ngay co đầu gối lại, nơi ngoài đầu xương có lổ xủng là vị trí của huyệt.

b) Phương pháp châm cứu:

Châm sâu 8 phân, đầu kim hướng về huyệt Tam lý. Hơ nóng 20 phút. Đốt 7 đến 77 liều, có thể xâm cho ra máu

c) Chủ trị:

Khớp xương ở đầu gối xưng (sưng đầu gối). Bại nửa thân mình. Chân tê lạnh. Hai chân rút gân. Bón kinh niên. Mặt sưng. Mật có sạn. Màng hông sưng. Thần kinh ở sườn đau. Tiểu xón. Rét mới phát. Bí đái, nhức lưng.

d) Phương pháp phối hợp:

Hợp với huyệt Âm Lăng tuyền, huyệt Túc tam lý trị đầu gối sưng nhức.

Hợp với huyệt Hoàn khiêu trị chứng phong thấp làm lạnh và tê.

Hợp với huyệt Kiên tỉnh, huyệt Túc tam lý trị chứng khước khí (chân lạnh nhức đau).

e) Tham khảo các sách:

Sách Traité d’acupunctrue nói: huyệt Dương Lăng tuyền trị mặt sưng và hay tiểu đêm.

Sách Châm sứu thực hành nói: Những bịnh thuộc về gân, huyệt này làm chủ.

Kinh Thần Nông nói: Chân lạnh, tê véo không biết đau, co dũi không được, bại nửa thân, gân ở sườn đau nhức nên đốt từ 14 đến 21 liều.

Sách Thiên Tinh Bí quyết nói: Chứng khước khí rần nhức, trứơc dùng huyệt Kiên tỉnh kế đến huyệt Tam lý và huyệt dương lăng tuyền. Chứng phong thấp lạnh tê trước châm huyệt Hoàn khiêu tiếp đến châm huyệt Dương lăng tuyền.

Phú tịch hoằng nói: Đầu gối nhức đau nên dùng huyệt này.

Phú Ngọc Long nói: Huyệt Dương Lăng tuyền, huyệt Âm lăng tuyền, trị đầu gối sưng.

Sách Y Học Cương Mục nói: Hông đau, sườn nhức nên châm huyệt này.

Sách Thiên tỉnh Thập Nhị Huyệt nói: Huyệt này trị đâu gối sưng tê, một bên lạnh tê, ngồi đứng nặng nề, mặt sưng, hông đầy hơi, chân nhắc không lên, châm sâu 6 phân hết liền.

h)      Nhận xét chung:

Huyệt Dương Lăng tuyền trị đau 1 bên hông và nội tạng ra máu, nó có công năng chỉ huyết nên đàn bà kinh nguyệt không đều hoặc trồi sụt, nên đốt với huyệt Tam âm giao. Bại nửa thân, xương sườn nhức, hai chân co rút, tại sao lại châm huyệt Dương Lăng tuyền thuộc  đởm kinh mà hết bịnh? Vì gan và mật liên hệ mật thiết. Gan là nơi hòa hợp của gân mà huyệt Dương lăng tuyền là nơi hội các gân nên châm nó trị được tất cả các bịnh thuộc về gân.

9. HUYỆT HUYỀN CHUNG.

Huyệt này có tên huyệt Tuyệt cốt, nơi hội của tủy, thuộc Túc Tam Dương lạc (nơi trước cổ chân có động mạch).

a) Phương pháp tìm huyệt:

Ở ngoài mắt cá thẳng lên 3 tấc sau huyệt Dương phụ có lổ thủng và có động mạch nhảy là vị trí của huyệt.

Châm sâu từ 4 đến 5 phân, có thể dùng kim Ba Khía châm ra máu. Hơ nóng 10 phút. Đốt 5 liều.

b) Chủ trị:

Thần kinh ở chân nhức. Bại nửa thân mình. Khước khí. Mủi viêm cấp tính. Chảy máu cam. Trỉ huyết, chân yếu, mất ngủ, tích tủy xương sống bịnh, tay chân ốm lần.

c) Phương pháp phối hợp:

Hợp với huyệt Điều khẩu, huyệt Xung Dương trị chân chậm chạp khó đi.

d) Tham khảo các sách:

Sách Acupuncture của H. Goux nói: huyệt này hợp với huyệt Tuyệt Cốt trị chứng thắc nhục ở chân.

Phú Tích hoằng nói: - Chân nhức, đầu gối sưng châm huyệt Tam Lý, huyệt Huyền Chung, huyệt Nhị Lăng, huyệt Tam Âm giao.

e) Nhận xét chung:

Huyệt Huyền Chung chủ trị các chứng thuộc về xương và tủy, hai xchân tê lạnh, mất ngủ, đầu cổ cứng nhức, cốt tủy viêm, đầu nóng như lửa, chân lạnh như nước đá. Châm huyệt này rất công hiệu, vì nó có công năng làm cho máu chạy đều và hết thấp khí.

10. HUYỆT KHEO KHƯ

Đó là nơi mạch Túc thiếu dương đi qua.

a) Phương pháp tìm huyệt:

Từ ngón chân thứ 4 đi lên phía ngoài mắt cá có 1 lằn ngang, co chân lại nơi sâu xuống là vị trí của huyệt. (Cách huyệt Giải khê một đường gân)

b) Phương pháp châm cứu:

Châm sâu từ 3 đến 5 phân, đầu kim hướng phía sau mắt cá. Hơ nóng 10 phút. Đốt từ 3 đến 5 liều .

c) Chủ trị;

Ruột co rút. Thần kinh tọa cốt nhức. Khước khí (chân lạnh co không được.) Phổi viêm. Màng hông viêm. Có cục trong bụng đau.

d) Phương pháp phối hợp:

Hợp với huyệt Thương kheo, huyệt Giải khê trị Khước khí (chân tê lạnh).

Hợp với huyệt Kim môn, trị chuyển gân.

e) Tham khảo các sách:

Sách châm Cứu Kinh nghiệm (Nhật) nói: Hợp với huyệt Thương Kheo trị phong đau và chân giựt.

Sách Thiên Kim nói: Hông đau như đâm, chân sưng nhức, vọp bẻ không thể đứng lâu được nên dùng huyệt này.

Sách Bảo Mạng nói: - Hai bên hông đau nhức nên châm huyệt này.

Phú Bá Chúng nói: Chuyển gân nên hợp với huyệt Kim Môn để trị.

Phú Ngọc Long nói: Hợp với huyệt Thương kheo, huyệt Giải khê trị chân nhức.

g) Nhận xét chung:

Các lóng xương ở chân nhức đau, cổ sưng cứng hoặc đau, huyệt này châm rất công hiệu …

Huyệt Kheo khư thuộc đởm kinh do 6 dương kinh chạy vào nên các chứng đau gân nhức mỏi chung quanh mắt cá trị rất hay. Nó có tác dụng làm giãn gân, máu lưu

thông.

11. HUYỆT HIỆP KHÊ

Huyệt này có tên huyệt Giáp khê, Túc Thiếu dương đởm mạch chạy vào, thuộc Thủy huyệt.

a) Phương pháp tìm huyệt:

Giữa ngón chân út và ngón thứ tư giáp lại, nơi xương thứ nhất có chổ sâu xuống là vị trí của huyệt.

b) phương pháp châm cứu:

Châm sâu 3 phân, đốt 3 liều.

c) Chủ trị:

Tai điếc, chóng mặt, sung huyết ở não. Chân tê, phổi sung huyết. Sưng vú (vú có mụt). Lạc khuyết. Thần kinh ở ngực nhức. Nước tiểu chảy không ngừng.

Hợp với huyệt Dương cốc trị chứng bệnh sưng hàm không há được.

d) Tham khảo các sách:

Phú bá chứng nói: Huyệt này trị hàm sưng, cứng miệng.

Phú Thiên Kim nói: Vú sưng lở nhức, bụng dưới sưng đau, kinh nguyệt không đều nên dùng huyệt này.

Tạp chí Võ Điền nói: Huyệt này trị xẩy xẩm, chân và lưng nhức hay vú sưng.

Sách Traité d’acupuncture nói: chóng mặt, hai chân sưng tê nên dùng huyệt này làm chủ.

Sách Châm Cứu Khoa học (Nhật) nói: Huyệt này trị tai điếc, chóng mặt, máu dư…

e) Nhận xét chung:

Chóng mặt không nói chuyện được, châm huệyt này để kim lâu từ 30 phút đến 1 giờ thì hết, châm huyệt Thiếu Hải, đốt huyệt Đại đôn, huyệt Túc tam lý để kim 1 giờ, không luận não sung huyết cấp tính hay thiếu máu, thần kinh suy nhược hay chóng mặt đều có công hiệu. 

ChamcuuB.JPG
Phần trước | Phần sau Xem nhanh: