Cỡ chữ: Vừa | Lớn | Lớn hơn

Nguyệt Cầm - Một nốt nhạc buồn của Xuân Diệu

Nguyễn Khánh Thư

Nguyệt Cầm - Một nốt nhạc buồn của Xuân Diệu
Nguyễn Khánh Thư

Trong bản giao hưởng rộn ràng kia bỗng xuất hiện một giai âm trầm lắng, dịu hẳn. Nhưng là một giai âm thu hút đến lạ kì. Nó chiếm lĩnh người đọc bằng âm lượng vừa đủ nhẹ nhàng, đủ thanh thoát, đủ khơi sâu, động thấu đến lòng người đọc, thức dậy những trường liên cảm. Nguyệt cầm - cái điệu nhạc khác nhịp ấy - là một bài thơ hay, dễ truyền và gây cảm xúc mạnh mẽ đến độc giả. Rất tự nhiên nó tạo ra một chất kết dính vi huyền giữa nhà thơ và tác giả thứ hai (độc giả).

Nỗi ám ảnh thời gian trở thành niềm khắc khoải khôn nguôi của Xuân Diệu. Một con người ham sống đến say mê, cuồng nhiệt, khao khát được giao cảm với đời đến triệt để, đến tận cùng cho nên ông luôn vội vàng, giục giã, sống cuống quýt, sống để tận hưởng cho hết những dư vị của cuộc đời ngắn ngủi này. Nhịp sống sôi nổi và mạnh mẽ đó trở thành âm hưởng chủ đạo của thơ ông. Nhưng tâm hồn ham hố, vồ vập và luôn rạo rực ấy cũng có lúc cô đơn đến khủng khiếp vì không tìm được sự đồng điệu cảm thông với tâm hồn mình. Cho nên trong cô đơn, Xuân Diệu đã tìm đến với tạo vật để tìm sự giao thoa. Nguyệt cầm đã thể hiện rất rõ cảm quan nghệ sĩ hết sức tinh tế của nhà thơ khi nghe tiếng đàn sầu não trong một đêm trăng thu sáng lạnh. Không hiểu do ánh trăng, tiếng đàn vang vọng đã khơi nguồn cảm hứng hay do tiếng lòng nhà thơ đang tấu lên khúc nhạc dìu dặt này:

Trăng nhập vào dây
cung nguyệt lạnh...
Nghe sầu âm nhạc đến sao khuê
.

Xuân Diệu nói: "Thơ hay lời thơ chín đỏ trong cảm xúc - đó là một chân lí vĩnh cửu" Quả thực bằng những rung động tinh vi và nhạy bén, Xuân Diệu đã nắm bắt được những biến thái của tự nhiên một cách rất tài tình. Nhà thơ phải mở rộng tâm hồn mình, phải "thức nhọn mọi giác quan" thì mới lắng nhận được vẻ đẹp của tạo vật và cất lên được những vần thơ hay như thế. Bài thơ được tạo ra từ khối cảm xúc của thi nhân được nung chảy. Cả âm nhạc cả màu sắc lan toả không gian. Khung cảnh tràn ngập ánh trăng, tràn ngập tiếng đàn tạo ra một không gian lung linh và huyền ảo. ở đây có sự hoà quyện giữa trăng và đàn. Từ đầu đề Nguyệt cầm đã đủ thể hiện phần nào. Trăng như phổ nhạc cho phím đàn vang ngân trong không gian, truyền đi trong không khí, toả ra và lan rộng.

Trăng nhập vào dây
cung nguyệt lạnh


Tác giả đã sát nhập trăng và cung đàn. Sự tương giao giữa tiếng đàn và ánh trăng đã đồng nhất hoá hai làm một. Không phải là thứ màu sắc vàng ánh, cũng không phải là nhạc điệu nào cụ thể nữa mà cái âm sắc mới này là sự kết chuyển siêu hình. Tác giả đã thổi hồn mình sang cho tạo vật. ánh trăng trở thành một sinh thể có cảm giác, có linh hồn. Tiếng đàn trở thành tiếng vọng của cõi lòng đi tìm sự tri âm, đồng điệu. Cái không gian màu - nhạc ấy ngưng kết lại đóng cứng và tinh khiết tuyệt vời:

- Mây vắng trời trong
đêm thuỷ tinh
Long lanh bóng sáng
bỗng rùng mình
- Thu lạnh càng thêm
nguyệt tỏ ngời
Đàn nghe như nước lạnh trời ơi


Một không gian yên tĩnh, trong suốt và rất mơ hồ nhưng nó khơi gợi ra cái siêu thoát như trong thơ Hàn Mặc Tử. Bài thơ này có thể đi qua chủ nghĩa lãng mạn, bước đến địa hạt tượng trưng. Nhưng dù mơ hồ và huyền ảo đến đâu thì ở cái ranh giới siêu thực này, Xuân Diệu vẫn còn bám vào đời, níu lấy cuộc sống trần thế. Với ông cuộc sống này là tất cả. Cho nên "chơi giữa mùa trăng" Hàn Mặc Tử thấy "kì ảo, thơm thơm" Đó là một đêm "siêu hình và vô lượng". Trong khi Hàn tan biến vào trăng thì Xuân Diệu vẫn ở trong đời sống thực mà cảm nhận những biến thiên của tạo vật. ông cảm nhận được không gian trong như thuỷ tinh, thấy được cái long lanh của bóng sáng và truyền cảm xúc cho những vật vô tri vô giác ấy trở thành một linh hồn biết rung động, tạo vật và tâm tình phản ánh vào nhau và bộc lộ qua hình tượng thơ. Người ta nói: thơ tiềm ẩn trong rung động. Bài thơ chỉ có thể được hình thành khi có sự truyền lan của rung động ấy. Nguyệt cầm chính là cảm xúc chân thực, nóng hổi của Xuân Diệu khi đối diện với cảnh vật và đối diện với lòng mình. Chỉ có rung động thực sự, Xuân Diệu mới cảm được cái đẹp của tạo hoá và chớp được những tơ rung của lòng mình. Nhịp điệu bài thơ nhẹ nhàng, dìu dịu, đượm một thoáng buồn nhưng vẫn có sự chuyển tấu của âm sắc. Đó là những cung bậc khác nhau của âm nhạc mà Xuân Diệu nghe được bằng chính cái ân tình của mình.

Trăng thương trăng nhớ
Hỡi trăng ngần
Đàn buồn đàn lặng ôi đàn chậm
Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân.


Khi lòng mình đang cô đơn, trống trải, tạo vật bỗng dưng ngưng đọng những giọt sầu. Tần số giao động của từng tiết tấu trong câu thơ chậm rãi, ngắt nhịp từng đôi một nghe thật buồn. Nhạc đàn hay nhạc lòng nhà thơ... Không rõ nữa. Buồn, thương, nhớ, bằng mấy tính từ chỉ sắc thái biểu cảm ấy gợi cho người đọc một tâm trạng cô đơn, buồn thảm. Có một cái gì đó như là sự day dứt, trở trăn. Trăng và đàn tuy có sự hoà nhập nhưng tác giả vẫn luôn để chúng sóng đôi. Dường như để tâm tình. Tạo vật đã được "nội cảm hoá", nhà thơ biến cái vô hình trở nên hữu hình. Trăng và đàn trở thành hai sinh thể sống bằng rung cảm và tâm tình của nhà thơ. Từ buồn, thương và nhớ ấy, cảm giác lạnh buốt tê cứ chợt xâm chiếm cảm quan người đọc:

Đàn nghe như nước lạnh trời ơi
Long lanh tiếng sỏi
vang vang hận


Gam độ của nỗi buồn ngày càng gia tăng. Cả âm nhạc, cả ánh sáng tụ đọng thành từng giọt lạnh lẽo đến xương da. Cái hay của bài thơ chính là sự miêu tả cảm xúc. Cái cảm xúc vô hình kia bỗng trở nên có hình, có khối. Không gian ở đây là không gian của tâm trạng. Dường như ở đây cảm giác thực khuất đi mà chỉ còn lại là ảo giác. Tác giả sống bằng ảo giác. Trăng nhạc nhập nhoà và tiếng đàn đau khổ, não nề vì mệnh bạc của người xưa càng làm cho tác giả cảm thấu được nỗi cô đơn, buồn tẻ của mình. Bốn khổ thơ cuối khắc rõ sự cô đơn tuyệt đối của nhà thơ:

Bốn bề ánh nhạc biển pha lê
Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề
Sương bạc làm thinh
khuya nín thở
Nghe sầu cảm nhạc
đến sao khuê.


Ở đây, không gian mang màu sắc trừu tượng: thấy rõ nhưng không nắm bắt được. Tác giả dùng hình ảnh trực tiếp đánh mạnh vào các giác quan. Cảnh sắc thu mình lại: "Sương bạc làm thinh", "khuya nín thở". Dường như Xuân Diệu chỉ nghe được, thấy được, cảm được cái lạnh lẽo từ mọi phía đang bủa vây lấy mình. Nhà thơ đã khắc chạm nỗi cô đơn của mình vào không gian bằng hình ảnh thơ rất độc đáo: "chiếc đảo hồn tôi"; "chiếc đảo hồn" ấy trở nên bơ vơ lạc lõng giữa không cùng của trời đất. Trước cái rộng lớn của vũ trụ, Xuân Diệu càng cảm thấy cô đơn. Nhưng không phải cái cô đơn như Huy Cận. Huy Cận cô đơn vì ông cảm thấy mình bé nhỏ trước thiên địa vô thủy vô chung. Còn Xuân Diệu, chỉ vì ông không tìm được mối giao hoà nên sự trống trải đã buộc ông ra khỏi cảm xúc thực, đi trong ảo giác.

Cả bài thơ là sự chuyển đổi từ màu sắc sang âm thanh và sự lan truyền từ âm thanh sang màu sắc. Nó thể hiện sự cảm nhận vi diệu của nhà thơ. Chất nhạc thấm đẫm trong từng câu thơ, buồn buồn, chầm chậm, ngưng, nghỉ và đôi lúc yên lặng hoàn toàn. Đó là một nốt nhạc trầm trong cả bản âm thanh ào ạt kia. Phải chăng đó chính là lời độc thoại của Xuân Diệu!...