Cỡ chữ: Vừa | Lớn | Lớn hơn

Người đọc Phương Tây nói gì về các tác phẩm văn học VN đương đại?

Hoàng Hưng

Trong cán cân giao lưu văn học VN-quốc tế, “nhập” áp đảo “xuất” với tỷ số tuyệt đối. Giới thiệu văn học VN đương đại ra quốc tế vẫn là ưu tư canh cánh của những người yêu “chuông nhà”. Làm sao cải thiện về căn bản tình trạng này? Muốn có câu trả lời thiết thực, không duy ý chí, tưởng cũng nên bắt đầu bằng việc “khảo sát thị trường”.

 

Khảo sát bằng cách nào? Trong điều kiện một cá nhân đơn lẻ, không có phương tiện nào khác, tôi thử dùng công cụ dễ kiếm nhất, nhanh nhất, mà cũng có lẽ là trung thực nhất, là lướt mạng, để xem những tác phẩm nào gây ấn tượng nhất, và xem người đọc Phương Tây (người đọc thực tế và tiềm năng lớn nhất của chúng ta ở nước ngoài) nói gì về chúng? Từ đó, có thể gợi ý về con đường chinh phục thế giới của các nhà văn nhà thơ ta.

 

Về văn xuôi

 

Cho đến nay, có 5 tác phẩm được người đọc bình chọn 4,5/5 trên mạng quan trọng nhất về sách là Amazon.com và vài mạng khác, cũng là những tác phẩm có nhiều người bình luận.

 

1/ Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh (The Sorrow of War, bản dịch tiếng Anh của Phan Thanh Hảo, Frank Palmos hiệu đính) Cho đến nay vẫn xếp vị trí đầu bảng trong số các tác phẩm được bạn đọc phương Tây chú ý. Nó đã được xếp trong top 10 các tiểu thuyết Đông Nam Á. Có người đã nói là nó xứng đáng được giải Pulitzer (giải văn học sáng giá nhất của Mỹ) và được so sánh với Mặt trận phía Tây không có gì lạ của Remarque.

 

“…has been placed among the top ten Southeast Asian novels. It "vaults over all the American fiction that came out of the Vietnam War," says one critic, boldly. It has been called Pulitzer-worthy, and has been compared by numerous robots to All Quiet on the Western Front”

(Kenneth Champeon, nhà  văn, mạng ThingsAsia)

 

  Phẩm chất đầu tiên được người đọc nêu lên là chân thực, khách quan, không định kiến chính trị: “Không chạy trốn sự dữ dội và hiện thực trần trụi. Tác giả là một người sống sót trong cuộc chiến, chiến đấu trong quân đội Bắc VN chống Mỹ, nhưng Bảo Ninh không có hảo ý với cả quân đội Bắc VN cũng như người Mỹ và đồng minh.Trong cuốn tiểu thuyết này không có chủ nghĩa lãng mạn, mà chỉ là sự chân thực. Kiếp sau khi dạy học, tôi sẽ yêu cầu học sinh của mình đọc nó đối chiếu với tác phẩm “The Things They Carried” của Tim O’Brien (tác phẩm về chiến tranh VN

của nhà văn Mỹ nổi tiếng). Những cuốn sách ấy có thể làm chấm dứt một cuộc chiến”

 

There is no escaping the intensity and naked reality presented. The author is a survivor of the American War who fought in the North Vietnamese Army, but Bao Ninh is kind to neither the North Vietnamese Army nor the Americans and its allies. There's no romanticism in this novel, only honesty. In my next life, when I'm a teacher, I will assign this to my class to be read back-to-back with Tim O'Brien's "The Things They Carried". These books could stop a war.

(Edward j. Santella, 1/57 người bình luận trên Amazon.com)

 

  Nhân bản cũng là giá trị được nhấn mạnh:

“Là một cuốn tiểu thuyết chứ không phải luận văn, The Sorrow of War không cho ta câu trả lời. Nó chỉ yêu cầu chúng ta thừa nhận một sự thật, ngay cả với những cuộc chiến tranh gọi là “chính nghĩa”: “Công lý có thể đã thắng, nhưng sự tàn bạo, chết chóc, và bạo lực phi nhân cũng đã thắng”.

 

A novel and not a treatise, The Sorrow of War does not answer. It only asks us to recognize a truth even of so-called "just" wars: "Justice may have won, but cruelty, death, and inhuman violence have also won."

(Kenneth Champeon)

  

   Một bất ngờ cho những ai kết tội cuốn tiểu thuyết của Bảo Ninh là có cái nhìn tiêu cực đối với người lính miền Bắc VN. Ngược lại, không ít bạn đọc phương Tây phát hiện vẻ đẹp của người VN qua cuốn sách, đối nghịch với sự tuyên truyền của phim ảnh Mỹ:

“(Cuốn tiểu thuyết) cố gắng nhân bản hóa hoàn toàn một dân tộc cho đến nay vẫn thường bị xem như những kẻ cuồng tín hành động như người máy”

 

The novel "manages to humanize completely a people who until now have usually been cast as robotic fanatics."

(The Sunday Times (London))

 

“Nỗi buồn chiến tranh ca tụng sức chịu đựng bền bỉ của người lính Bắc VN… Vai trò của người phụ nữ thể hiện trong cuốn sách… Tôi chưa từng biết khía cạnh này trong văn hóa Việt Nam cho đến khi đọc cuốn sách này và tôi liền theo học một khóa về lịch sử Việt Nam. Văn hóa phương Tây không thường vẽ chân dung những người phụ nữ bảo vệ gia đình và chiến đấu cho đất nước. Là một phụ nữ và một phụ nữ từng là lính, tôi cảm thấy mình có mối liên thông với những người phụ nữ trong truyện… Tôi hâm mộ họ. Nhìn thấy cái cách họ được miêu tả tôi nhận ra rằng trong văn hóa Mỹ của mình có lẽ tôi chẳng bao giờ thấy một chủ nghĩa anh hùng như thế. Phần lớn các nữ anh hùng trong truyện bị giết hoặc bị hiếp, nhựng họ vẫn được phép trở thành anh hùng như thế. Tôi thấy đó là sự khác biệt lớn giữa Nỗi buồn chiến tranh và những phim sách “American made”. Việc đọc cuốn sách này cho tôi thêm một chiều kích mới đối với cuộc chiến tranh VN”

 

The Sorrow of War celebrated the North Vietnamese soldier's endurance and perseverance. It described in detail what the "other side" went through. The role of women was covered in this book. Kien fought alongside and against women during the war. He admired the women soldiers he fought with. He respected them. I have never encountered this aspect of the Vietnamese culture till I read this book and took a history course about Vietnam. Western culture does not regularly portray women as defenders of their homes and warriors for their country. As a woman and as a woman who was a soldier I felt a connection to the women in this story. No one ever told them they could not fight and die for their country. I admired them. I saw the way they were portrayed and realized that in my American culture I would probably never see such heroism. Most of the heroines in this novel were either killed or were raped and yet they were still allowed

to be those heroines. I see this as a large difference between The Sorrow of War and American made movies and books. Reading this book has added a new dimension to the Vietnam War for me. I am glad I had the opportunity to see the many sides of the issue.

(Susan L. Birmingham, AL, Hoa Kỳ, mạng Amazon.com)

 

2/ Chốn vắng của Dương Thu Hương

Bản tiếng Pháp (Terre des oublis của Phan Huy Đường) là một thành công ở Pháp (gần 200.000 bản phát hành, giải thưởng của báo Elle, tái bản trong các bộ sách Le Livre de Poche, Robert Laffont, …) tiếp theo là các bản dịch xuất bản ở Mỹ (bản tiếng Anh No Man’s Land

của Nina McPherson) ở Ý và Tây Ban Nha.

 

   Nhiều phẩm chất được ca ngợi, nổi bật là về sự thể hiện sinh động tâm lý xã hội VN thời hậu chiến và sự quyến rũ của bút pháp “Một sự đột nhập lôi cuốn vào lãnh thổ ít người biết: chấn thương gây ra bởi cuộc chiến tranh VN đối với những người chiến thắng”

 

"A fascinating foray into little-charted territory: the trauma wrought by the Vietnam War on its 'winners'."

(Kirkus Reviews)

 

“Hương gợi lên vẻ  đẹp của xứ sở, những truyền thống Việt Nam xưa, và những tiết tấu phi thời gian của đời sống hàng ngày, đối âm với những bi kịch của sự đàn áp và chiến tranh. Chia sẻ những tâm sự đau khổ của mỗi tính cách bị mắc vào cái mạng thắt nghẹt của tuyệt vọng, bổn phận, ham muốn, cảm thương, và giận dữ, Hương dẫn một câu chuyện quyến rũ, chính xác về chi tiết và có tầm rộng lớn. Một cuốn tiểu thuyết làm ta say đắm, phân tích một cách sắc sảo bản chất của chiến tranh và hòa bình, sự nghèo nàn và giàu có về vật chất và tinh thần, cái tôi và cộng đồng, sự cưỡng bức và tình yêu”

 

Huong evokes the beauty of the land, Vietnam's ancient traditions, and the timeless rhythms of daily life in counterpoint to the tragedies of communist oppression and war. Privy to the anguished thoughts of each character caught in this strangling web of desperation, duty, sacrifice, desire, compassion, and rage, Huong spins a captivating tale precise in details and grand in scope. A ravishing novel that exquisitely parses the nature of war and peace, material and spiritual poverty and wealth, self and community, coercion and love.

Donna Seaman (Booklist _ American Library Association)

 

“Đó là một cuốn tiểu thuyết cao cả với bút pháp thơ, trộn lẫn nhục cảm với sự tàn bạo trong những miêu tả lộng lẫy đầy màu sắc và mùi hương. Người đọc không thể không bị chao đảo, chói lóa sau khi đọc nó”

 

C'est un sublime roman à l'écriture poétique mêlant la sensualité et la cruauté dans de somptueuses descriptions remplies de couleurs et d'odeurs. Le lecteur ne peut qu'en sortir ébloui, chaviré

(Florinette "www.leslecturesdeflorinette.com" (Aquitaine, Pháp)

 

3/ Thiên đường mù của Dương Thu Hương (Bản dịch tiếng Anh Paradise of the Blind của Nina McPherson): Được chọn trong “500 cuốn sách lớn của tác giả nữ”:

 

  Sự hấp dẫn của “xứ lạ” và hiện thực xã hội:

“Cuốn sách thể hiện được vẻ đẹp lớn lao và những sự thú vị đầy ấn tượng của xứ sở độc đáo này, cũng như sự xuống cấp và hiện thực ảm đạm của thời hậu nội chiến”

The book captures the enormous beauty and sensory delights of this unique land, as well as the degradation and grim realities of the post-civil-war period.

(School Library Journal)

 

-  Nổi bật là sự thể hiện đặc sắc văn hóa Việt Nam: “… một chuyện kể giàu chi tiết và không định kiến. Tác giả…miêu tả sự phức tạp của văn hóa Việt Nam – sự trung thành với gia đình và tổ tiên, giá trị biểu trưng của thức ăn, sự phân biệt giai cấp và cảm giác luôn luôn tuyệt vọng trộn lẫn với lòng tự hào”

 

… a narrative rich in detail and free of cliche. The author, who lives with her children in Hanoi, depicts the complexity of Vietnamese culture--the allegiance to family and ancestors, the symbolic value of food, class distinctions and the continuing sense of desperation mingled with pride.

(Publishers Weekly)

 

“Qua con mắt của Hằng, chúng ta nhận thấy tầm quan trọng của những ràng buộc gia đình và hiểu được vai trò của thực phẩm, nghi lễ và sự thờ cúng tổ tiên trong xã hội VN. Chúng ta cảm nhận nỗi khổ đau của người phụ nữ sống trong một xã hội nam quyền, ở đó họ chỉ ngang hàng

với đày tớ”

 

Through Hang's eyes we perceive the importance of family ties and understand the role that food, ritual, and ancestor worship play in Vietnamese society. We see the Communist legacy as relatives and friends turn on one another in an effort to become the "king of the mountain," and we feel the pain of women living in a male-dominated society where they are on equal footing only with servants. Highly recommended for Asian studies and women's studies collections.

(Library Journal)

 

4/ Tuyển tập truyện ngắn Sang sông của Nguyễn Huy Thiệp (Crossing the River bản dịch của Nguyễn Nguyệt Cầm)

 

  Cũng là về đặc sắc văn hóa VN:

“Một đề tài trở đi trở lại khai thác tình trạng không thích hợp của các anh hùng và những niềm tin truyền thống. Tuy nhiên, phần lớn hình ảnh, môi trường xung quanh, và sự kiện thấm đẫm triết lý đạo đức Việt Nam và Phật giáo cùng với huyền thoại và lịch sử Việt Nam. Về nhiều mặt, sự liền kề của tranh đấu có ý thức với chấp nhận hài hước đen tối dường như là một đặc điểm cốt yếu của văn hóa Việt Nam”

 

A recurring theme explores the inadequacy of heroes and traditional beliefs. However, much of the imagery, surroundings, and events are steeped in Buddhist and Vietnamese moral philosophy and Vietnamese myth and history. In many ways, this juxtaposition of aware struggle and darkly humorous acceptance seems to be a quintessential feature of Vietnamese culture

Allison Martin "Book Reviewer" (Amazon.com)

 

5/ Tập truyện ngắn Trong sương hồng hiện ra của Hồ Anh Thái (Behind the Red Mist bản dịch của Wayne Karlin & Nguyễn Quí Đức)

 

• Phẩm chất sâu sắc của nội dung xã hội đi đôi với đặc sắc của bút pháp:

“Một tập hợp rất đẹp gồm 10 truyện ngắn của một nhà văn có tài, khai thác đời sống hậu chiến ở Việt Nam quê hương ông với sự trộn lẫn chủ nghĩa hiện thực tàn bạo và huyễn tưởng tượng trưng chủ nghĩa. Chủ đề căn bản của Thái là sự tương phản giữa chủ nghĩa ái quốc ngây thơ với chủ nghĩa hiện thực cay đắng của những thế hệ sau bị tổn thương vì lịch sử cuộc chiến kéo dài gần đây của đất nước họ”

 

A fine collection of ten stories, all published in the last two decades, by a talented writer who explores postwar life in his native Vietnam with a commanding mixture of brutal realism and symbolist fantasy. Thai's primary subject is the contrast between naïve patriotism and the embittered realism of later generations scarred by their country's recent history of prolonged warfare

(Kirkus Reviews)

 

“Châm biếm, siêu thực và ẩn dụ ngập tràn nhiều truyện ngắn trong tập truyện được xây dựng một cách lịch lãm này” "Satire, surrealism and allegory suffuse many of the stories in this

elegantly constructed collection..."

(New York Times Book Review)

 

Về Thơ

 

Dễ hiểu tại sao thơ rất ít được chú ý. Dịch thơ là cực khó, nhất là khi sự khác biệt vê ngôn ngữ và văn hóa giữa VN và phương Tây quá lớn, và khi thị hiếu toàn cầu ngoảnh mặt với thể loại văn học này.

 

1/ Gây được tiếng vang rộng rãi duy nhất là Tuyển tập Chó đen và đêm (Black Dog, Black Night) do Nguyễn Đỗ và Paul Hoover chọn và dịch, gồm 17 nhà thơ trong nước và 4 nhà thơ gốc Việt công dân Mỹ.

 

  Cuốn sách được tạp chí thơ online Coldfrontmag bình chọn là tuyển thơ dịch hay nhất của Mỹ năm 2008

 

  Tập đoàn những NXB nổi tiếng như Macmillan Reference USA™, Charles Scribner's Sons® hoặc Primary Source Media™… đã quyết định chọn 15 bài thơ của 11 nhà thơ Việt Nam trong tuyển tập Black Dog, Black Night để đưa vào tổng tập văn học thế giới, một loại SGK tham khảo văn học thế giới bằng tiếng Anh. Tên tổng tập này LitFinder (tạm dịch: Tìm Văn), do nhà thơ Emma Hull biên tập, xuất bản tại chi nhánh ở Anh quốc.

 

Danh sách 11 nhà thơ và 15 bài thơ Việt Nam đã được chọn, xếp theo thứ tự của NXB: Hữu Loan (Màu tím hoa sim), Tế Hanh (Hà Nội vắng em), Văn Cao (Có lúc; Năm buổi sáng không có trong sự thật), Trần Dần (Cột đèn câm), Hoàng Hưng (Người đàn bà điên; Người về), Nguyễn Khoa Điềm (Vườn quả của mẹ), Ý Nhi (Lời bài hát; Buổi sáng), Nguyễn Quang Thiều (Linh hồn đàn bò), Nguyễn Đỗ (Hồi ức một ngày; Với), Xuân Quỳnh (Thơ tình cuối mùa Thu), Nguyễn Duy (Đà Lạt một lần trăng).

 

  Một bài thơ trong tuyển đã được bình luận khá kỹ trên mạng của tổ chức thơ hùng mạnh nhất của Mỹ là Poetry Foundation  (Người về – A Man Returning Home):

 

“Tôi xếp bài thơ này vào Hồ sơ “Những bài thơ hâm mộ” vì tôi mê cái cách sử dụng trạng thái nghiêng của nó. Tôi yêu lối bất an của cuộc sống người đàn ông này dường như đồng thời tăng tiến và giảm đi với cường độ lớn. Cái “tiếng bâng quơ hỏi” có thể sẽ dường như bớt đe dọa hơn nếu như nó đến sớm hơn trong bài thơ, như sau câu thơ nói về các con ông ta chẳng hạn. Nhưng ở đây, đến cuối bài thơ, khi chúng ta thấy được những sự bất an về thể xác như “một cái vỗ vai” khiến ông hoảng hốt đến thế, thì tiếng nói kia trở nên đáng lo ngại không thể tin nổi. Tiếng nói ấy đòi ông làm gì vậy? Dòng thơ ngắt sau cái giật mình đặc biệt hiệu quả ở chỗ cái “giật mình” đến liền sau sự đe dọa của những câu hỏi. Bây giờ cái ý người đàn ông giật mình dường như báo động một cách khủng khiếp, và mặc dù lẽ ra chúng ta được trấn an vì thật ra ông ta giật mình chỉ vì một sự nhỏ nhặt như thế, thì cuối cùng sự đe dọa của “một cái vỗ vai” lại tăng lên chứ không mất đi. Tôi cũng yêu cái từ không xác định “cõi ấy” và việc từ này được viết hoa và in nghiêng trong bản dịch (That). Hoàng Hưng để cho người đọc quyết định người đàn ông này trở về từ chỗ nào. Tôi có những phỏng đoán của mình, nhưng câu trả lời chính xác cho “cõi ấy” có thể ít ý nghĩa hơn nhiều so với câu trả lời mà chúng ta có được về những gì “cõi ấy” đã  gây ra cho người đàn ông. Và với những chi tiết dồn dập trong bài thơ, nỗi khiếp hãi cái “cõi ấy” có thể ngày càng dồn sức nặng theo sự tiến triển của bài thơ. Hãy xem xét cái cách những sự lựa chọn phản ánh những âu lo. Hay là  hãy xem cái cách những âu lo phản ánh những lựa chọn. Có gì khác nhau giữa hai cái?

 

I placed this poem in my Admired Poems file because I was enamored of its use of the list. I love the way the discomforts of this man’s life seem to simultaneously increase and decrease in magnitude. The “aimless voice ask[ing] questions”  might have seemed less daunting had it come earlier in the poem, next to the mention of his kids for instance. But here at the end of the poem, when we find that physical comforts like “a touch to his shoulder” frighten him so, this voice becomes incredibly worrisome. What is the voice asking him to do? The line break after jumps is particularly effective given that the line “He jumps” comes in such proximity to the menace of those questions. Now the idea of the man jumping seems terribly alarming, and though we ought to be calmed by the fact that he’s jumped at such a little thing, in the end the menace of the “touch to his shoulder” increases rather than dissipates. I also love the nonspecific word “That,” and how, in this version of the poem, the word is presented capitalized and in italics. Hoàng Hung allows the reader to decide what it is this man has returned from. I have conjectures, but the specific answer to what “That” might be is significantly less interesting than the answers we get to what “That” has done to the man. As with the details accumulated in the poem, the horror of what “That” might be accrues weight as the poem progresses. Consider the way choices reflect anxieties. Or, consider the way anxieties reflect choices. Is there any difference between the two?

Camille Dungy (nhà thơ, PGS khoa Viết văn trường Đại học San Francisco State)

http://www.poetryfoundation.org/harriet/2009/07/a-few-prompts-drawn-from-wanderinghome/

 

2/ Tác phẩm Thơ  duy nhất nhận được nhiều lời bình: Tập Đường xa của Nguyễn Duy (Nguyễn Bá Chung & Kevin Bowen dịch) “Đây là một Whitman của Việt Nam: một nhà thơ yêu đất nước mình, bị kẹt vào một cuộc xung đột tàn bạo giữa miền Bắc và miền Nam, một nhà thơ ôm trọn sự hỗn mang và khắc tạc nó thành bài ca. Những bài thơ đen tối nhất của ông vẫn dành chỗ cho sự hồi sinh tập thể, hay ít nhất là sự sống sót”.

 

 Here is a Vietnamese Whitman: a poet who loves his country, trapped in a brutal conflict between North and South, a poet who embraces chaos and sculpts it into song. His darkest poems leave room for collective rebirth, or at least survival. 'Whatever happens, the land lives within us,' he writes. 'We are the people--we will endure.'"

(Catherine A. Salmons, The Boston Sunday Globe)

 

Những bài thơ chiến tranh mạnh mẽ một cách bình lặng của Duy là không thể quên được

"Duy's quietly potent war poems are unforgettable”

(The Boston Sunday Globe)

 

… một giọng say đắm, giọng của lòng can đảm và lòng tin, hy vọng và tình yêu. Ông khai thác vẻ đẹp của ngôn ngữ trực tiếp, giản dị theo một cách vừa cá nhân vừa chính trị, không màu mè hay giáo huấn

 

The English translation reveals Nguyen Duy as a passionate voice, one of courage and conviction, hope and love. He mines the beauty of simple, direct language in a way that is personal and political, without rhetoric or didacticism."

(Lori Tsang, Multicultural Review)

 

Vài điều rút ra:

 

Các tác phẩm trên  được ưa thích vì những khía cạnh chủ yếu sau: khách quan trung thực trong việc tái hiện hiện thực xã hội, không định kiến (định hướng) chính trị; thấm đẫm chất nhân bản, nhân văn; đặc sắc về tâm lý-văn hóa Việt Nam; lối viết tương đối hiện đại. Cần xoá bỏ ngộ  nhận: những tác phẩm được nước ngoài ưa chuộng là do nội dung “chống chế độ” Việt Nam (như đã dẫn chứng về Nỗi buồn chiến tranh). Người đọc chân chính trên thế giới có cái nhìn rất khách quan về giá trị của một tác phẩm văn học, tất nhiên dựa trên những tiêu chí phổ quát của thời đại.

 

Thương hiệu cho văn học Việt Nam chỉ có được một khi có những tên tuổi đủ sức chinh phục công chúng thế giới. Mà muốn chinh phục thế giới, trước nhất phải độc đáo - sự độc đáo của văn hóa và hiện thực Việt Nam nhưng thể hiện ở tận mức cá nhân chứ không chỉ là “đậm đà bản sắc dân tộc” nói chung. Nhưng sự độc đáo ấy phải mang một tư tưởng nhân văn cao sâu ở tầm nhân loại. Một đóng góp thực sự vào văn học thế giới phải là sản phẩm “3 trong 1” (cá nhân – dân tộc – nhân loại) như thế.

 

Gần đây tôi thường nghĩ đến một hiện tượng văn hoá  Việt Nam có sức mạnh chinh phục người phương Tây rất lớn: đó là những ý niệm và thực hành Phật gíao đang được hiện đại hoá theo phong cách rất Việt Nam của Thiền sư Nhất Hạnh (được gọi là “Pháp môn Làng Mai”). Tư tưởng Phật giáo là một tư tưởng phổ quát đã thấm nhuần sâu xa và được Việt Nam hoá tích cực nhất trong lịch sử dân tộc. Thích Nhất Hạnh cũng là một nhà văn, ông có vài chục cuốn sách được xuất bản trên thế giới với hàng triệu bản. Hiện tượng này có thể cho ta những gợi ý tốt về con đuờng ra thế giới của văn học VN./.

 

1/2010