Cỡ chữ: Vừa | Lớn | Lớn hơn

Đọc Lại Truyện Kiều-1

Hiếu Tân

Truyện Kiều là một trong những tác phẩm luôn gợi ra những suy nghĩ mới mỗi lần đọc lại. Dưới đây là vài suy nghĩ nhân lần đọc lại Truyện Kiều như là một hưởng ứng bài viết công phu và đầy cảm hứng của Thái Kim Lan “Ý niệm đoàn viên trong Truyện Kiều của Nguyễn Du”

 

Hơn hai trăm năm nay, về văn chương Truyện Kiều đã có hàng ngàn lời bình, tán; những khám phá, phát hiện góp vào việc đọc hiểu, thẩm, thụ cảm, thưởng ngoạn vẻ đẹp lộng lẫy của ngôn từ, văn phong, tình tiết, tâm lý. Góp, vì những bình tán ấy thường là hoà hợp, bổ sung cho nhau mà ít khi tranh giành loại trừ nhau, làm cho ta hiểu các tầng ý nghĩa của truyện ngày càng phong phú và sâu sắc thêm. Ngay cả khi các kiến giải khác nhau về cách hiểu, cách đọc một chữ, thì tất cả các lý giải vẫn còn đó bỏ ngỏ để người đọc người nghe tự mình lựa chọn, tâm đắc.

 

Còn về tư tưởng, triết lý Truyện Kiều ? các nhà học giả chia làm nhiều phe, dùng vũ khí lý luận của mình nhất quyết chiếm lĩnh mảnh đất Truyện Kiều cho riêng mình, bằng cách loại trừ, đánh bại, đánh bạt đối thủ để giành phần thắng. Mỗi bên có cái lý của riêng mình, và Truyện Kiều còn đó.

 

Hãy hình dung Truyện Kiều là “Vườn xuân một cửa”, thì cửa ấy đâu có ngăn cấm một ai. Bước chân vào đấy, ta có thể suy tư về đủ điều, mọi lẽ. Dựa trên những diễn biến, nhưng tâm tình trong truyện, ta có thể trầm tư về lẽ đạo hay ngẫm ngợi lẽ đời, và ta thấy mình có toàn quyền như thế. Còn nếu xác quyết rằng “Chính Nguyễn Du đã nghĩ thế này” hay “ đây mới thực là tư tưởng Nguyễn Du”, thì xin hãy dè dặt, chậm rãi một chút. Tôi e rằng Nguyễn Du sẽ mỉm cười lặng lẽ: “Ta quả có viết 3254 câu thơ, nhưng ta có nói gì đâu?”

 

1. NGUYỄN DU (ND)VÀ THANH TÂM TÀI NHÂN(TTTN). ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH VÀ KIM VÂN KIỀU TRUYỆN

 

Bàn về nội dung và triết lý Truyện Kiều, nhiều học giả cứ vô tư viết : “Nguyễn Du đã để cho Kiều thế này, Nguyễn Du đã chọn cho Kiều thế kia”.

 

-  “Nguyễn Du đã không để Kiều lưu lại trong chùa trong quãng đời còn lại”

“Họ cho rằng Nguyễn Du nên nhân đạo hơn hay nên thoát khỏi tư tưởng phong kiến luôn luôn chà đạp đàn bà, bằng cách cho nàng Kiều chết thật v.v..”

 

Nhưng thực ra Nguyễn Du có muốn chọn cũng không được, vì Thanh Tâm tài nhân đã chọn rồi. Xin cử một vài ví dụ so sánh:

 

- “Hai lần Nguyễn Du đã không để cho nhân vật của mình chết” (đính chính: Thanh Tâm tài nhân không để ...)

 

Lần một: Kiều định tự tử trong đêm tân hôn với Mã Giám sinh:

Kim Vân Kiều Truyện:

 

“Kiều thốn đạo : tha phí ngân thảo ngã, ngã nhược tử liễu, tha khởi cam tâm, tất liên luỵ ngã phụ thân. Bãi! bãi! Phủ đắc nhất tử phóng tại hung trung’ tha đáo tha gia như bất thoả thiếp tử tại tha gia vị trì.”

 

Kiều ngẫm nghĩ: hắn bỏ tiền ra mua mình, nếu mình chết hắn đâu có chịu ắt rồi liên luỵ đến cha. Thôi, thôi, việc chết không để bụng nữa, đợi hắn về đến nhà, nếu không thoả mình chết tại nhà hắn cũng chưa muộn. TTTN

Đoạn trường tân thanh :

 

“Nghi đi nghĩ lại một mình,

Một mình thì chớ hai tình thì sao

Sau dầu sinh sự thế nào

Truy nguyên chẳng kẻo luỵ vào song thân”

(ND)

 

Lần hai : (Ở nhà Tú bà, sau khi tự tử không thành, mơ gặp Đạm Tiên)

Kim Vân Kiều Truyện:

 

“Kiều tưởng đạo tiền sinh nghiệp trái, kim nhật vị hoàn, hựu tăng lai sinh nhất trùng oan trái, hà thời hoàn đắc can tịnh.”

 

Kiều thầm nghĩ: nợ kiếp trước đến giờ chưa trả, lại để kiếp sau nợ chồng lên một tầng nữa, thì bao giờ gỡ cho xong.

(TTTN)

 

Đoạn trường tân thanh :

 

Kiếp này nợ trả chưa xong

Làm chi thêm một nợ chồng kiếp sau

(ND)

 

Nguyễn Du đã chọn cho nhân vật của mình giải pháp sống lại (đính chính: Không phải Nguyễn Du mà Thanh tâm Tài Nhân chọn)

 

Kim Vân Kiều Truyện:

“Đạm Tiên vị kiều tòng tiền khổ dĩ lịch tận, kim nhật kiếp hựu tiêu hoàn, tự thử phúc lộc chung thân, tình duyên như ý, đoạn trường hội tạc dĩ trừ danh, đoạn trường thi kim đương phụng bích”

 

Đạm Tiên bảo Kiều khổ trước đã hết , kiếp này được toàn vẹn, từ đây cả đời được phúc lộc, tình duyên như ý, hội đoạn trường đã xoá tên, thơ đoạn trường nay mang trả lại. (TTTN)

 

Đoạn trường tân thanh :

 

Đoạn trường sổ rút tên ra

Đoạn trường thơ phải đem mà trả nhau

Còn nhiều hưởng thụ về sau

Duyên xưa tròn trặn phúc sau dồi dào

(ND)

……………….

Qua đây, có thể thấy Nguyễn Du đã dịch khá sát nguyên bản của Thanh Tâm tài nhân. Tôi không đồng ý với những người cho rằng Nguyễn Du đã phóng tác ra Truyện Kiều. Khi nói đến những đỉnh cao tư tưởng xuất phát từ nội dung, cốt truyện Truyện Kiều, ta nên thận trọng trừ bớt đi phần của Thanh Tâm tài nhân, phần còn lại mới đích thực là của Nguyễn Du.

 Hãy xem đoạn tả cuộc đối thoại Kiều-Kim trong đêm tân hôn:

  

Kim Vân Kiều Truyện:

“ Dĩ lang ái thiếp chi cách ngoại, cố hàm tu dĩ tương tòng, nhược bất cập vu tiết hiệp, sử thiếp vong tình thượng khả lược thi nhan đối quân tử. Nhược tất dĩ thiếp thụ nhục chi thời giả nhục thiếp, thị phi ái thiếp dã, cừu thiếp dã”

 

(Chàng yêu thiếp lối bên ngoài, thì thiếp cố gượng theo chàng, nếu không đến nỗi suồng sã quá trớn, không đến nỗi để thiếp quên tình, thì thiếp có thể mở mặt hầu quân tử. Còn như cứ lấy những điều thiếp đã bị nhục trước đây để sỉ nhục thiếp, thì không còn là yêu thiếp nữa, mà là thù thiếp đấy.)

 

Chỗ này Đoạn Trường Tân Thanh viết thế nào:

 

Những như âu yếm vành ngoài

Còn toan mở mặt với người cho qua

Lại như những thói người ta

Vớt hương dưới đất, bẻ hoa cuối mùa

Cũng nhơ dở nhuốc bày trò

Còn tình đâu nữa chỉ thù ấy thôi!

 

Cùng một ý tưởng, mà một bên thì cục mịch, thô vụng; một bên thì ý nhị rõ ra ngôn ngữ của người có tâm hồn, và có học. Kiều của Thanh Tâm tài nhân là một cô gái điếm hoàn lương, rất nhạy cảm với vết ô nhục cũ chỉ sợ đến một lúc nào đó chàng Kim lại coi thường mình, dở những nỗi nhục cũ ấy ra mà làm mình nhục thêm lần nữa: đó là suy nghĩ thường tình của người trong cảnh ngộ ấy. Hai chữ “tiết hiệp”( “suồng sã, quá trớn, khinh lờn”) có ý ngăn đe, “chặn trước” khiến người đối thoại không khỏi cảm thấy ê chề.

 

Kiều của Nguyễn Du tự thẹn mình không còn “phong nhuỵ” để đối đãi tình nhân, Người yêu ta xấu với người , tuy rằng từ trong sâu thẳm cõi lòng trong sạch, Kiều luôn xứng đáng với Kim Trọng, như Phạm Quí Thích đã viết “Băng tâm tự khả đối Kim lang”. Ấy là vì nàng trân trọng mối tình cũ, đặt nó ở vị trí quá cao nên không muốn đem thân mình đã lấm bụi trần dự vào chuyện chăn gối làm thấp nó đi. Và nàng cũng rất hiểu người tình, hai bên đúng là “tương tri dường ấy mới là tương tri” không làm gì có cái ý “xấu với người thì người xấu lại”.

 

Người yêu ta xấu với người

Yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau.

 

Kiều không e sợ bị chàng đối xử thế nào, mà chỉ lo mình không còn đủ tư cách đáp lại tấm tình cao quí ấy. Xấu ở đây là xấu hổ, chàng vì quá yêu mà thiếp cố theo, miễn cưỡng mà theo thì khác gì phụ nhau.

Cái giống và cái khác, cái chung và cái riêng giữa hai văn bản là thế. Về nội dung, cốt truyện giống nhau đến từng chi tiết. Cái khác ở đây là khác giữa một câu chuyện kể thường với một kiệt tác văn chương, khác nhau về chiều sâu tâm lý, khác nhau giữa thơ và cái không thơ.

 

TRUYỆN KIỀU : HIỆN THỰC VÀ SIỀU HÌNH

 

Trong Truyện Kiều có hai mạch chuyện: mạch nổi và mạch ngầm.

Mạch nổi là cái mà ta có thể thấy bằng con mắt trần tục:

·   Bọn sai nha gây oan khổ cho nhà Vương viên ngoại, đẩy Kiều đến bước bán mình;

·   Mã Giám sinh, Tú Bà, Sở Khanh mưu mô hại đời Kiều;

·   Hoạn Thư hiểm ác và cay nghiệt đày đoạ, Thúc sinh thực lòng yêu thương cứu chuộc, bà quản gia, vãi Giác Duyên thương tình cứu vớt;

·   Từ Hải nâng nàng lên cao đỉnh chót vót vinh hoa và quyền thế;

·   Hồ Tôn Hiến đạp nàng xuống đáy ô nhục.

Tất cả mọi khổ đau của Kiều đều có nguyên nhân trực tiếp do những con người bằng xương bằng thịt gây ra, nếu ta nhìn sự vật bằng con mắt tự nhiên của những người chưa bị vướng bận với những học thuyết về bản thể, sự vật thế nào cứ để nguyên như thế, không thêm bớt cái gì từ bên ngoài vào, và xét đoán mọi người mọi việc bằng lương tri thông thường. Từ cách nhìn này, thấy rõ ngườì lành kẻ ác, kẻ hèn hạ người cao thượng. Trước mỗi nhân vật, mỗi cảnh ngộ, Nguyễn Du đều bày tỏ bộc trực hay thâm thuý thái độ của mình, và những tâm cảm ấy qua lời thơ mà truyền vào người đọc, người nghe. Đối với người đọc bình thường, thế cũng đủ đáp ứng nhu cầu về phương diện nhận thức thực tại.

 

Một số lý luận gia “có tinh thần chiến đấu” muốn đi đến một kết luận khái quát đậm màu chính trị, mà Xuân Diệu là một trường hợp điển hình. Trong “Bản cáo trạng cuối cùng trong truyện Kiều”[1 ]chúng ta được thấy mối cảm thương trái khoáy của ông đối với nàng Kiều, và ngợi ca nhầm chỗ đối với Nguyễn Du. Trái khoáy và nhầm chỗ, bởi vì cái “sáng tạo thêm rất lớn” của Nguyễn Du. không phải ở “bản cáo trạng cuối cùng” do Xuân Diệu tưởng tượng ra một cách nực cười vì nó không đúng, mà ở hình tượng một nàng Kiều độc đáo, sâu sắc mà sự lựa chọn đã nâng nàng lên cao hơn tầm nghĩ của hàng “nữ nhi thường tình”. Điều đó có được chính là nhờ tài nghệ ngữ ngôn của một Nguyễn Du trác việt.

 

Xuân Diệu lo cho nàng Kiều “ba mươi tuổi sẽ sống như thế nào, thực chất là không chồng không con cho đến hết đời..”[1 ] Chính Nguyễn Du đã nói rõ điều này: “Môt nhà phúc lộc gồm hai..”, nhưng Xuân Diệu không chịu nhận đó là hạnh phúc thực sự, vì nó là “buộc gioa”, tư sản, dù ông không hỏi Nguyễn Du và Kiều xem nàng có thoả nguyện với cái phúc lộc “buộc gioa” ấy không? Còn lại một điều là Xuân Diệu xót xa cho cái cảnh “chay tịnh”, “tình mà không dục” của Kiều cho đến hết đời. Nhưng đây chính là sự lựa chọn tự do của Kiều, đem nó ra làm cáo trạng để tố cáo xã hội, thật ra đã hạ thấp nàng Kiều ở cuối câu chuyện, từ vị trí một người ung dung làm chủ đời mình và thân mình, sống cái đời mà tự mình đã chọn, xuống thành ra một nạn nhân có cảnh ngộ và tâm trạng tủi nhục đáng thương; và như vậy, cái ý nghĩa của đoàn viên, tái hồi chẳng còn lại gì, cái kết có hậu lại thành không hậu. Cái đau hão, thương hờ của Xuân Diệu ở đây chỉ càng chứng tỏ ông không hiểu cả Kiều và Nguyễn Du.

 

Nhà thi sĩ mơ mộng xưa kia có lần đứng giữa đất trời mà cảm nhận cái huyền vi của “không gian như có dây tơ, bước đi sẽ đứt động hờ sẽ tiêu” lúc này hăm hở chiến đấu cho một lý tưởng “chống áp bức bóc lột”, lại đưa ra những ý tưởng thô thiển, kỳ cục và thật chẳng thơ chút nào.

 

“Bất cứ lúc nào nhà thơ cũng nên chống áp bức bất công của xã hội dù dưới hình thức nào”. Đúng lắm. Vấn đề là bằng cách nào? Bằng cái lối của kẻ độc quyền chân lý: vơ nhận tất cả cái cao đẹp về phía mình và tống tất cả cái xấu xa bị ổi sang phía địch, cuộc “chiến đấu” thật quá dễ dàng.

 

Cái lôgích ở đây khá đơn giản: Chúng ta (tức là Xuân Diệu) tuyên chiến với mọi xã hội (cũ) áp bức bất công. Và Nguyễn Du, thi hào lớn của dân tộc, trong Truyện Kiều đã lớn tiếng tố cáo những tàn ác bất công của xã hội phong kiến. Có được một Nguyễn Du thiên tài làm đồng minh thì còn gì bằng. Ở đây cũng như nhiều nơi khác, sự tiện lợi là chân lý.

 

Với những luận đoán ấy, cách cảm cách nghĩ ấy, Xuân Diệu không phải là đơn độc trong cái thời đồng thanh đồng phục về tư tưởng, phần nhiều nặng về khẳng định lập trường chính trị của bản thân hơn là đưa ra những kiến giải, lập luận có tính khoa học. Với những nhà “chiến sĩ tư tưởng” ở những mức độ tự nguyện khác nhau ấy, chỉ xin có một câu hỏi thực tiễn cho mọi lý luận cao siêu: Vậy thì sau chừng ấy năm, cái xã hội lý tưởng không có người bóc lột người của quý vị, nó đang ở đâu rồi?

 

Cái mạch thứ hai trong Truyện Kiều, cái mạch ngầm, cũng khá rõ nét: bóng ma Đạm Tiên một lần hiển hiện và ba lần báo mộng là một sợi tơ xuyên suốt cuộc đời chìm đắm của Kiều, một thày phù thuỷ cao tay “phi phù trí quỷ”, một bà Tam Hợp đạo cô nhìn rõ bước đường đời vị lai của Kiều mà như đọc từ sách ra, đúng đến từng chân tơ kẽ tóc.

 

Mạch ngầm này phải được lý giải bằng thuyết siêu hình. Có hai thuyết được nhắc đến nhiều: thuyết “Tài mệnh tương đố” và thuyết nhân quả nhà Phật.

 

Thuyết “Tài mệnh tương đố” mang nặng màu sắc định mệnh, thật ra là một thứ triết lý của giới nho sĩ tài tử, là nơi gửi gắm tâm sự của những con người tự thấy mình có tài mà không thoả chí, tự cho mình lao đao lận đận vì tài.Ta có thể tán đồng hay bác bỏ nó, nhưng không thể phủ nhận sự có mặt của nó trong Truyện Kiều, từ nội dung đến hình thức, kết cấu, từ cốt truyện đến ngôn ngữ. Khác với các thuyết khác, thuyết này có một đặc điểm gọi là “đồng bệnh tương liên” của những người cùng hội cùng thuyền: Kiều khóc Đạm Tiên, Tố Như khóc Kiều, ba trăm năm nữa ai người khóc Tố Như? Chữ khóc ở đây không đơn giản đâu, khóc thương thì ai cũng khóc được, nhưng tiếng khóc của Trần Dần, Văn Cao chẳng hạn, khác với tiếng khóc của Tố Hữu, Xuân Diệu .. nhiều lắm. Tất nhiên những Trần Dần, Phùng Quán, Phùng Cung, Bùi Ngọc Tấn, cũng như những M. Bulgakov, B. Pasternac, v.v..những tài hoa của thời hiện đại biết rõ tai hoạ của mình đến từ đâu, nên họ không kêu “trời xanh”, “hoá công” hay “con tạo” làm gì cho mất công; nhưng đó là vấn đề thời đại. Chỗ nương dựa của chủ nghĩa định mệnh là những “hoạ phúc khôn lường” trong thế gian, những chuỗi ngẫu nhiên của đời sống vô thường trước sự bất lực của lý trí, ở người thường thì không sao, nhưng hễ rơi vào những bậc tài hoa lỗi lạc thì luôn gợi lên lòng thương cảm mênh mang nơi những ai biết giá trị của “Tài” mà không làm được gì khác hơn là oán “Mệnh”.

 

Xem thân thế và văn chương Nguyễn Du, ta thấy cái tâm sự này xuất hiện hơi nhiều.

Nghĩ về mình:

 

“Bản vô văn tự năng tăng mệnh, Hà sự càn khôn thác đố nhân?”

( văn chương vốn chẳng căm hờn mệnh, cớ chi trời đất ghét ghen người - Bùi Hạnh Cẩn dịch). Độc Tiểu Thanh ký: “Phong vận kỳ oan ngã tự cư” (Ta tự thấy mình trong nỗi oan lạ lùng của con người phong vận)

 

Viếng mộ Đỗ Phủ:

 

“Nhất cùng chí thử khởi công thi”

(Có phải vì thơ hay nên mới nghèo đến thế)

 

Và sâu đậm hơn cả, thống thiết hơn cả chính là Truyện Kiều, đã nói hộ tâm sự của bao lớp ngườì, như Phạm Quí Thích, người bạn tâm giao của Nguyễn Du đã viết:

 

“Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy, Tân thanh đáo để vị thuỳ thương ?”

( Một mảnh tài tình là cái lụy chung của muôn đời, vậy thì cuốn Tân Thanh này cốt để thương xót ai?)

 

Về thuyết nhân quả của Phật giáo, chúng ta còn có dịp xem xét kỹ dưới đây.

 

SỰ LỰA CHỌN CỦA KIỀU TRÊN HAI BÌNH DIỆN

 

Trong đời mình, Kiều không phải con người thụ động mà luôn tự mình lựa chọn, quyết định. Ta có thể xem xét các lựa chọn của Kiều trên hai bình diện: hiện sinh và siêu hình.

Trên bình diện hiện sinh, con người hoàn toàn tự do (“buộc phải tự do”) lựa chọn hành vi thái độ của mình, mỗi lựa chọn cho thấy Ta là ai, Ta thế nào (“không phải lựa chọn hoàn cảnh cho TA, mà lựa chọn TA cho hoàn cảnh”)

 

Trên bình diện siêu hình, theo lý thuyết nhân quả và nghiệp của Phật giáo, lựa chọn là lựa chọn lấy một cái nhân và rồi quả sẽ đến sau, nhân nào thì quả ấy, lựa chọn bây giờ là nhân của mai hậu, hoạ phúc trong vị lai. Trần Trọng Kim viết:

 

“Theo cái lý thuyết ấy, thì phàm phúc hay họa là ở tự mình gây ra cho mình. Mình đã có cái hoàn toàn tự do mà làm việc thiện hay việc ác, thì mình lại có hoàn toàn trách nhiệm về những việc ấy”. [2]

 

Cuộc đời Kiều trong giới hạn hiện sinh

 

Lựa chọn đầu đời của Kiều là lựa chọn tình yêu:

 

Rằng trong buổi mới lạ lùng,

Nể lòng có dễ cầm lòng cho đang.

Chót lòng quân tử đa mang,

Một lời vâng tạc đã vàng thuỷ chung.

 

Cái lý lẽ “vì buổi mới lạ lùng nên khó lòng chối từ” nghe mới thật lạ lùng, nhưng nó thật dễ thương vì đúng là lý lẽ của con tim.

 

Trong sự lựa chọn ấy, ta thấy một nàng Kiều say đắm nhưng tự tin, thanh thoát và dường như cảm thấy được hoàn toàn tự do. Trong suốt quãng ngày đêm nhớ nhung, hò hẹn, kể cả ban ngày “Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mái tường” lẫn ban đêm “Xăm xăm băng nẻo vườn khuya một mình” nàng chỉ nghĩ đến tình yêu và người yêu, không một thoáng bận lòng về những trói buộc cấm đoán của lễ giáo hay những đe doạ của miệng lưỡi thế gian. Đây là điều mà các nhà nho chính thống không thể nào chấp nhận, họ nổi xung vì trong cái vòng lễ giáo của họ, người phụ nữ làm gì có quyền tự do chọn tình yêu và hôn nhân cho mình. Sau Nguyễn Du cả gần thế kỷ mà những bậc quân tử ở ta còn cho rằng đạo đức chỉ là tuân phục sự cấm đoán, mà hành vi đẹp nhất là biết tự cấm mình “Khoan khoan ngồi đó chớ ra, nàng là phận gái ta là phận trai”, thì quả thật hành vi của Kiều đã vượt lên trên những dây dợ lằng nhằng của thời đại mình mà trở thành biểu tượng đẹp của tình yêu muôn thưở.

 

Trong cả đoạn thơ 22 câu (từ câu 501 đến câu 522) “Thưa rằng đừng lấy làm chơi… Còn thân còn một đền bồi có khi”-lời nàng Kiều khuyên ngăn Kim Trọng giống như một bài thuyết giảng đầy chữ nghĩa, ta thấy nàng là người có suy tư sâu sắc chứ không phải nặng tình mà nhẹ lý như có người nhận xét. Cũng là theo những ước lệ về “chữ trinh”, ” bố kinh”, “tòng phu”, nhưng thấu đáo hơn, nàng cốt giữ cho tình yêu được vẹn toàn, những chữ “chán chường”, “ rẻ rúng” cho thấy cái từng trải, nhìn xa của cô gái mới chớm tuổi “cập kê” đã không hoàn toàn là “vị thành niên” nữa. Về phương diện tình dục, trong suy nghĩ của Kiều, không phải bao giờ cũng chỉ đơn giản một chữ “không”. Trong đêm “tân hôn” trớ trêu với Mã Giám sinh, Kiều đã hối tiếc “Biết thân đến bước lạc loài, nhị đào thà bẻ cho người tình chung” cái ý nghĩ thầm kín nhưng rất táo bạo - ước vọng quyền tự do, làm chủ đối với thân xác của mình- nhất định sẽ bị các nhà đạo đức Khổng giáo kết tội là hư đốn, vì cam chịu và vâng phục mới là chuẩn mực đạo đức mà họ đề ra cho người nữ. Trong hành vi này Kiều có nét điển hình của người phụ nữ Phương Đông: yêu thiên về cho- hiến tặng, không màng nhiều đến nhận- thụ hưởng. Đây cũng là một nội dung chữ TRINH của nàng, ham muốn tình dục được dẫn dắt, định hướng bằng lý trí hơn là bản năng. Để ý đến tính nhất quán trong hành vi, ngôn ngữ, tâm lý của nhân vật Thúy Kiều từ lần gặp gỡ đầu tiên với Kim Trọng đến khi tái hồi như nhắc đến ở trên, ta càng thêm thán phục thiên tài Nguyễn Du.

 

Lựa chọn lớn nhất trong đời Kiều là “bán mình chuộc cha” cứu được gia đình nhưng đã đẩy nàng vào một bước ngoặt tăm tối trong đoạn đời tiếp theo với biết bao đau đớn nhục nhã dày vò. Khi lâm sự, Kiều là người dám có những quyết định khốc liệt. Nàng đã ba lần chọn cái chết. Hai lần định quyên sinh để giữ trọn danh tiết (lần một: ở Phường trọ với Mã Giám sinh “Cầm dao nàng đã toan bài quyên sinh. Nghĩ đi nghĩ lại…”, lần hai: trong tay Tú Bà “Thôi thì thôi có tiếc gì. Sẵn dao tay áo tức thì giở ra”) đó là những lựa chọn của phẩm giá (“Đến điều sống đục sao bằng thác trong”) nên không thể coi là tiêu cực. Lần cuối ớ sông Tiền đường, cái chết là lối thoát duy nhất sau những đớn đau nhục nhằn cùng tột của kiếp người. Hai lần nàng đã chọn lầm khi mong dựa vào người khác để tìm kế thoát thân khỏi chốn ô nhục: một lần với Sở Khanh “Cũng liều nhắm mắt đưa chân” là đưa chân vào cạm bẫy, một lần với Thúc sinh:

 

“Thương sao cho trọn thì thương

Tính sao cho vẹn mọi đường thì vâng”

 

thì kết cục là không trọn ven, và rất nhiều lần, trong nhiều hoàn cảnh (với mẹ Hoan Thư, với Bạc Bà Bạc Hạnh, với Hồ Tôn Hiến sau cái đêm hạ công ấy) nàng không hề được lựa chọn.

 

Những lựa chọn của nàng Kiều cho thấy nàng là một người đàn bà không tầm thường, vì dám sống bằng những ý nghĩ của riêng mình, dám là chính mình. Trên kia ta đã nhắc tới một nét tính cách điển hình của phụ nữ Phương Đông trong tình yêu. Trong tính cách của phụ nữ Phương Đông, còn có một nét khác cũng rất điển hình, đôi khi được hiểu như một đức hy sinh cao cả: đó là sự cam chịu nhẫn nại, suốt đời âm thầm như một cái bóng của người khác, của những người khác (cha, chồng , con), suốt đời sống cho người khác mà chưa một lần sống cho riêng mình. Kiều không thuộc type này.

 

 

 

Dù là lựa chọn hành vi ứng xử hay đường đi nước bước, từ những toan tính, đắn đo, hay trước thúc ép của hoàn cảnh, mỗi lựa chọn của Kiều một mặt dẫn đến bước tiếp theo trong số phận của nàng, mặt khác cho ta thấy Kiều Kiều.

 

Trong các lần lựa chọn của nàng, có một lần sai lầm chết người: đó là lần xui Từ Hải ra hàng để rồi chui đầu vào thòng lọng của Hồ Tôn Hiến. Lựa chọn đó rốt cuộc đưa đến cái chết và làm tiêu vong sự nghiệp của Từ. Đối với một anh hùng như Từ Hải, trong chiến trận thắng bại sống chết tưởng cũng là chuyện thường. Riêng hình ảnh một Từ Hải “Khí thiêng khi đã về thần, nhơn nhơn còn đứng chôn chân giữa vòng” là một dấu hỏi khủng khiếp chất lên lương tâm nàng Kiều- lầm lỡ hay phản phúc? thật dạ hay hai lòng? - và chỉ câu trả lời của nàng “thà cùng sống chết một ngày với nhau” mới giải được cái khí uất ngất trời kia, để Từ đi về nơi chín suối mà không phải ôm hận đã chết dưới tay nàng. Ý này đã hai lần dội lại lương tâm nàng Kiều, “Trong mình nghĩ đã có người thác oan”, và “giết chồng mà lại lấy chồng” lương tâm nàng tự gánh lấy trách nhiệm do lầm lỡ trong lựa chọn của mình.

 

Thái Kim Lan viết:

 

“Kiều thường không được nghe, ngay cả với Thúc Sinh hay Từ Hải, Kiều đã không được nghe bằng tất cả tấm lòng yêu thương và trân trọng, và nhất là không được hiểu ”[2 ]

 

Không đúng! Kiều đã được Hoạn thư nghe (cho ra ở Quan âm các). Thúc sinh lúc đầu cũng có ý định nghe (lời khuyên của Kiều), nhưng sau tự ý làm trái là do nhu nhược và vụng dại - điều mà Kiều đã tiên cảm. Chính vì Kiều được nghe mà những lựa chọn của Kiều mới được thực hiện, và dở hay thế nào, chính nàng phải chịu trách nhiệm, có khi không chỉ với bản thân nàng. Những lần lựa chọn mà không được nghe là những lựa chọn phản kháng. Về phần Từ Hải, Từ Hải chưa hề tỏ ra không nghe lời Kiều, trừ cái lần “quyết lòng dứt áo ra đi”, cười rằng “Tâm phúc tương tri, sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình”- (mà không nghe như thế là đúng!). Trong cái mối tâm phúc tương tri ấy, Từ không phải lúc nào cũng chiều theo ý Kiều, nhưng luôn luôn hiểu cả đến những nỗi niềm sâu kín của nàng: “Xót nàng còn chút song thân , bấy lâu kẻ Việt người Tần cách xa”. Ngược lại, Kiều đã không thật sự hiểu Từ, để có lúc thì tán dương và khích lệ “Tấn Dương được thấy mây rồng có phen” rồi có lúc lại cảnh tỉnh “Nghìn năm ai có khen đâu Hoàng Sào”. Hồ Tôn Hiến đã biết đánh vào chỗ yếu nhất của cặp anh hùng- giai nhân này: Đứng trước nguy cơ và thử thách (sự chiêu hàng của Hồ Tôn Hiến) mà tâm tư hai người không đồng điệu :

Từ Hải:

 

Bó thân về với triều đình

Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu?

 

Kiều:

 

Cũng ngôi mệnh phụ đường đường

 Nở nang mày mặt rỡ ràng mẹ cha.

 

Hai hướng suy nghĩ ngược chiều nhau về cùng một khía cạnh của vấn đề: viễn cảnh của giải pháp ra hàng. Cuối cùng thì chàng đã nghe nàng và .. ra hàng, và chết! Nếu lần này Từ Hải quyết đoán hơn và không nghe cái tâm sự nữ nhi thường tình kia, thì sự nghiệp của Từ chưa biết thế nào, (“sức này đã dễ làm gì được nhau”) có thể cũng sẽ tan vỡ, nhưng mối tình của hai người chắc không chia lìa, và cái ước nguyện “thà cùng sống chết một ngày với nhau” chắc có cơ thực hiện được.

 

Sự thiếu nhất quán trong tâm tư Kiều là điều hoàn toàn có thể hiểu được. Sau bao nhiêu sóng gió dập vùi, bao nhiêu bất trắc khôn lường, từ trong sâu thẳm tâm can, khát khao cháy bỏng nhất của nàng là khát khao cuộc sống yên bình, như mọi người dân thường. Đi theo Từ Hải, nàng đã cảm tất cả cái bấp bênh của kiếp phù hoa. Mong muốn của nàng chỉ là đánh đổi cái vinh hoa phú quí bấp bênh này lấy cái địa vị vững vàng bình ổn của một danh nghĩa chính thống. Những ngôi mệnh phụ, những phu quí phụ vinh, những rỡ ràng mẹ cha chẳng qua là cái hệ quả kéo theo nếu mong ước kia thành sự thật. Nàng biết đâu rằng cái bất trắc khủng khiếp nhất, sự dập vùi tàn tệ nhất đang rình nàng ở phía trước, trong những lời mời gọi đường mật kia. Nhưng Từ Hải, một khi đã dấn thân vào cuộc chơi, đã “rạch đôi sơn hà” Từ thừa hiểu cuộc đổi chác đâu có đơn giản như vậy. Dựng lên một nhân vật Từ Hải phản loạn trên đường đời của Kiều, dù có ý thức hay không, (những) ngườì viết Truyện Kiều cũng đã đặt ra vấn đề chính thống và phản kháng. Và ở đây đã thể hiện toàn bộ mâu thuẫn trong tư tưởng Nguyễn Du. Giọng thơ của ông chưa bao giờ sảng khoái hào hùng như khi ngợi ca Từ Hải, và ai bảo cái chí

 

Phong trần mài một lưỡi gươm,

Những phường giá áo túi cơm sá gì.

 

không phải là của chính Nguyễn Du? Và rồi những “thánh trạch dồi dào”, “năm mây chiếu trời” làm ta thấy sự kính cẩn của ông đối với cửu trùng, niềm tin của ông vào cái vĩnh cửu chính thống “Bốn phương phẳng lặng hai Kinh vững vàng” vẫn không hề lay chuyển.

 

Để nhận rõ hơn thân phận nàng Kiều, chúng ta hãy xem những bộ mặt người đứng bên kia - những nguyên nhân trực tiếp của mọi nỗi thống khổ của nàng - qua cách miêu tả cũng là lối thể hiện thái độ của Nguyễn Du.Với Mã Giám sinh, Tú Bà, Sở Khanh, đó là những tiếng chửi dân dã: “giống hôi tanh”, “mặt mo”, “phường bán thịt, quân buôn người”. Bộ mặt Hồ Tôn Hiến thì lại được phác thảo trang trọng, uy nghi nhất - “Quan Tổng đốc trọng thần”, “kinh luân gồm tài”, “vâng chỉ đặc sai”. Trong khi những Tú Bà, Mã , Sở .. là phản diện, thì Hồ Tôn Hiến là hình ảnh chính diện, đại diện chính thức của xã hội phong kiến. Ta đừng nên suy diễn theo lối dân gian gán cho hai chữ “quân tử” mọi nghĩa tốt đẹp ở đời để rồi gọi Hồ Tôn Hiến là nguỵ quân tử là không đúng: Hồ Tôn Hiến đáp ứng đầy đủ nội dung của các định nghĩa của Khổng Tử về “quân tử”.Tề gia, trị quốc, bình thiên hạ! Tu thân ư? Thì Hồ đã biết hổ thẹn cho cái phương diện quốc gia của mình sau khi chung đụng với gái giang hồ là nàng Kiều:

 

Phải tuồng trăng gió hay sao?

 

Hỡi ôi, chính cái nỗi hổ thẹn của Hồ Tôn Hiến mới thật sự chôn vùi vĩnh viễn nàng Kiều, mới diệt trừ tận gốc mọi niềm kiêu hãnh làm người của nàng, mới cho nàng nếm trải đến cái nhục nhã tột cùng của kiếp người. Sau cái lằn mức đó thì cái chết xem ra là lối thoát nhẹ nhàng thanh thản nhất.

 

Thái độ nàng Kiều trong cái đêm oan nghiệt ấy mới thật lạ lùng. Một nàng Kiều biết phản kháng và dám phản kháng, giờ chỉ còn khóc lóc và tuân phục. Một nàng Kiều có tâm hồn cực kỳ mẫn cảm, bây giờ như một cái máy vô hồn nhất nhất theo lời người khác.

 

Đôi hàng nước mắt đôi làn sóng,

Nửa đám ma chồng nửa tiệc quan

Tổng đốc ví thương người mệnh bạc

Tiền Đường chưa chắc mả hồng nhan

 

Cái bi phẫn của nhà nho thi sĩ kia về cách hành xử của nàng Kiều đêm ấy, dù hơi quá cay độc, chưa hẳn là không có lý. Tất cả diễn ra vào cái đêm ngay sau buổi chiều mà Kiều phục xuống tạ tội với Từ. Từ Hải, đối với Kiều, còn hơn một người chồng.

 

Người ta nói đến việc Kiều ngang nhiên ca tụng Từ Hải trước mặt Hồ Tôn Hiến. Và rồi người ta không thể hiểu nổi, và linh hồn Từ Hải sẽ ngỡ ngàng biết bao trước cái cảnh người phu nhân yêu dấu “tâm phúc tương tri” vốn được Từ vớt ra khỏi bụi lầm đưa lên ngôi hiển quý, nay đang hạ mình xin xỏ lòng thương hại nơi kẻ thù của Từ

 

Xin cho thiển thổ một đôi,

Gọi là đắp điếm lấy người tử sinh.

 

Ta nên lưu ý điều này: Hồ Tôn Hiến, với danh nghĩa chính thống đã tiêu diệt Từ, dập tắt Từ, là kẻ thù của Từ Hải, nhưng trước sau chắc chắn không hề là kẻ thù của Kiều. Hồ Tôn Hiến có ghi công nàng trong thắng lợi của mình. Kiều cũng đã nhận công ấy, dù chỉ là “công ít, tội nhiều”. Bà Tam Hợp đạo cô cũng nhắc công ấy khi nói đến phán xét của Trời “hại một người cứu muôn người”. Nghĩa là cái việc vô tình của Kiều khi khuyên Từ Hải ra hàng, bây giờ trở thành hữu ý. Từ Hải và triều đình (thông qua Hồ Tôn Hiến) là hai phe đối nghịch. Vậy Kiều đứng về phe nào? Câu hỏi này xin gửi cụ Nguyễn Du. Không, Kiều không lựa chọn.

 

Một số nhà phê bình như Hoài Thanh cho rằng Từ Hải là hình bóng một lãnh tụ khởi nghĩa, và hình tượng Từ là giấc mơ tự do, mơ công lý. Đúng, chỉ đến khi với Từ Hải, Kiều mới có tự do, và mượn quyền uy của Từ, Kiều đã có lần nắm lấy cán cân công lý. Không sai, nếu ta cho rằng đây chính là giấc mơ của Nguyễn Du. Qua giấc mơ này, quyền làm người của Kiều đã được lập lại sau bao tan nát.

 

Bây giờ ta hãy xét cái quyền làm người ấy đã được tiếp nối thế nào dưới tay Hồ Tôn Hiến. Dưới mắt Hồ Tôn Hiến, Kiều là ai?. Dĩ nhiên, sau khi (Từ Hải) thất trận, Kiều không hề là đại vương phu nhân, là người đàn bà tài trí “cũng dự quân trung luận bàn” mà nhờ đó kế của Hồ mới thành. Hồ công cũng có ân cần hỏi han, cũng thương tình nghe lời xin của Kiều mà cho quấn cỏ quanh xác Từ Hải vùi sơ sài ven sông. Rồi khi bắt nàng thị yến dưới màn. Dở say, lại ép cung đàn nhặt tâu, rồi đến lúc rạng ngày nhớ ra, tất cả những việc mà người đời bảo là “dở trò dâm ô” ấy, Hồ làm một cách điềm nhiên, thản nhiên đến thế, ta mới hiểu ra rằng: dưới mắt Hồ, Kiều chỉ là một con hát, không hơn, không kém. Đó là điểm rơi của Kiều, kể từ khi mơ “được thấy mây rồng”, đến khi “phỉ nguyền sánh phượng đẹp duyên cưỡi rồng”, rồi lên nữa, đã có lúc cùng Từ Hải sánh vai ngồi giữa trướng hùm, lên đến đỉnh tót vời của tự do ý chí: vung ngàn vàng báo ân và hạ lưỡi đao báo oán, thì giờ đây: thân cát bụi lại trở về cát bụi, cái tấm thân khiến người dính dáng đến nó phải hổ thẹn, tìm cách xí xoá là gả cho thổ quan để đáp lại cái nguyện ước nhỏ nhoi của nàng “được thấy gốc phần là may”.

 

Khi bị Hoạn Thư vùi liễu dập hoa, làm cho không ngẩng được mặt lên, Kiều đau hơn là nhục, cái đau bị chia uyên rẽ thuý hơn là cái đau thể xác. Ghen với Kiều, Hoạn Thư còn coi Kiều là đối thủ, là tình địch, và những mưu chước hiểm ác lạ đời kia chính là để đối phó với sức quyến rũ mê hồn của Kiều mà Hoạn Thư tự biết mình không sánh nổi. Với Hồ Tôn Hiến, Kiều không có cái hân hạnh ấy. Từ Hải bị tiêu diệt, thân phận Kiều trở về con số không. Kiều đã được ân cần hỏi han ý kiến, và khi nghe cái ước nguyện của Kiều chỉ là

 

Hơi tàn được thấy gốc phần là may

thì đây

Quyết tình, Hồ mới đoán ngay một bài.

Lệnh quan ai dám cãi lời,

Ép nàng mới gán cho người thổ quan.

 

Phải rồi, lệnh quan thì ai dám cãi, và mọi đau đớn dập vùi chỉ là do ông tơ kia đã vơ quàng vơ xiên!

Hoạn Thư khi xem qua tờ thân cung biết được cảnh ngộ của Kiều, đã động lòng trắc ẩn

 

Rằng: tài nên trọng mà tình nên thương

 

cho ra ở Quan Âm các, cách giải tình thế của Hoạn Thư cũng là mở cửa cho Kiều. Quyết sách của Hoạn Thư thật là sâu sắc: để cách ly Kiều, còn gì hay bằng cho nhờ Cửa Không, nếu thành tâm theo Phật, lửa lòng nào chả tắt! Đó chính là nguyện ước của Kiều, mà Kiều không theo được. So sánh với cách hành xử sau này của Kiều khi muốn báo oán, thi sĩ Bùi Giáng đã hài hước cho rằng Hoạn Thư có chỗ còn “quân tử” hơn Kiều. Vâng, ông thật chí lý, nếu như các nhà nho ta có thể nuốt trôi cái khái niệm “quân tử-gái”, thưa Bùi tiên sinh!

Sau khi

 

Kiệu hoa áp thẳng xuống thuyền

số phận Kiều diễn biến thế nào ta đã biết. Để thoát ra khỏi cái tình thế khó xử (sự này biết tính thế nào được đây?) Hồ đã quyết một bài được một công đôi việc: thổ quan được trả công hậu hỹ, mà cái phương diện quốc gia kia được bảo toàn trọn vẹn.

 

Qua bao thăng trầm, rõ ràng đây là điểm thấp nhất mà phận Kiều rơi xuống.

Ta thấy rõ ở đây, từ khi nói đến chuyện ra hàng, ý nghĩ của Kiều luẩn quẩn bao nhiêu, đụng đến chính thống và phản kháng, Nguyễn Du lại mâu thuẫn bấy nhiêu. Thuý Kiều bị giằng xé hay Nguyễn Du bị giằng xé?

 

Kiều đã ba lần thuyết phục các người tình của mình. Với Kim Trọng, là thuyết về chữ TRINH, hay là giữ gìn sự trong sáng và bền chặt của tình yêu. Với Thúc Sinh là phương sách để vừa giữ yên gia đạo vừa định rõ danh phận của Kiều. Hai lần ấy, lần nào lý lẽ cũng rạch ròi, phân minh, tỏ tường, sắc sảo, và cũng là những ý nghĩ của chính nàng. Nhưng đến lý lẽ thuyết phục Từ Hải ra hàng thì ta thấy không xuôi. Nó như một bài đọc thuộc lòng kinh sách. Với Từ Hải:

 

Dọc ngang nào biết trên đầu có ai

 

thì nàng có câu:

 

Ai ai cũng đội trên đầu xiết bao.

 

Với Từ Hải:

 

Vào luồn ra cúi công hầu mà chi

 

thì nàng đã có lý lẽ:

 

Công danh ai dứt lối nào cho qua

v.v…. Thật là ông nói gà bà nói vịt. Chưa hết,

Trên vì nước dưới vì nhà,

Một là đắc hiếu hai là đắc trung

 

phải chăng là tâm sự của nàng Kiều, chữ TRUNG phải chăng là bổn phận của một người con gái lê thân qua kiếp phong trần và gửi gắm cuộc đời vào kẻ phản loạn? Câu hỏi này xin gửi cụ Nguyễn Du. Không, chính cụ cũng chưa trả lời được câu hỏi ấy cho mình.

 

Không thể nào bảo rằng những dằn vặt này không phải là một phần quan trọng trong tư tưởng Nguyễn Du. Bằng hiển ngôn, Nguyễn Du không tố cáo, ông chỉ phơi bày. Nhưng nỗi lòng thật của mình, ông không dấu được, và cũng không muốn dấu.

 

CUỘC ĐỜI KIỀU QUA CÁI NHÌN PHẬT GIÁO

 

Những ai học Phật đều cảm thấy mình đi dưới bầu trời tự do tư tưởng. Phật không độc quyền nắm giữ chân lý. Dĩ nhiên người muốn theo Phật thì phải có niềm tin vào Phật, nhưng vẫn có thể tôn trọng những niềm tin khác. Qua hai mươi lăm thế kỷ hệ tư tưởng Phật giáo đã phát triển ra vô số hệ phái với nhiều cấp độ khác nhau . Thái Kim Lan cho rằng tư tưởng Nguyễn Du trong Truyện Kiều thuộc hệ Bát Nhã (Không luận) của Long Thọ và Thiền tông của Huệ Năng. Cũng cần phân biệt trong đạo Phật hai phương diện: tríết học và tôn giáo; trong đó tôn giáo là nơi lý trí bất lực và chỉ còn lòng tin là chỗ dựa duy nhất.

1. Tứ diệu đế

 

Thái Kim Lan viết :

“Nguyễn Du đã sử dụng cái khung giáo lý Phật giáo „tứ diệu đế“ để thực hiện bản trường ca Đoạn trường tân thanh một cách sáng tạo: nếu câu chuyện 15 năm lưu lạc giang hồ của nàng Kiều từ khi „bán mình chuộc cha“, „thanh lâu hai lượt thanh y hai lần“ cho đến khi trầm mình ở sông Tiền Đường là một thực chứng thấu đáo của hai diệu đế đầu „khổ và tập khổ“, thì cuộc đoàn tụ gia đình và tái ngộ người yêu thuở ban đầu là cơ hội diệt khổ của nàng Kiều, là cơ hội sự thực hiện giải phóng khổ đau toàn diện nằm trong hai diệu đế sau „diệt và đạo“ như vế đối hay vế đóng cho hai vế đầu. [ ]

 

Cơ hội diệt khổ, giải phóng trong cuộc đoàn viên và tái ngộ, chính là nhờ ở Kim Trọng “quân tử, khác lòng người ta”. Nếu Kiều có được quả phúc từ kiếp tu của mình hay nhờ phép màu cứu độ của Quan âm, thì phép màu ấy đã cho nàng đến lúc này gặp lại một Kim Trọng vẫn còn là chàng Kim-người tình tuyệt diệu-như xưa. Hãy thử tưởng tượng một kết cục khác, Kiều gặp lại một Kim Trọng đã bị quan trường làm cho biến chất, thành một phường giá áo túi cơm chẳng hạn? Cội nguồn khổ đau hạnh phúc cho con người vẫn là chính con người. Không biết Nguyễn Du có nghĩ thế không, nhưng Truyện Kiều nói thế. Thái Kim Lan cũng hơn một lần nói đến “tha nhân là địa ngục” [mượn cách nói của J.P. Sartre nhưng không phải cách hiểu của Sartre] có lẽ lúc này phải nói tha nhân cũng là thiên đường.

 

Khổ đế:

 

Thái Kim Lan ca ngợi sự đồng cảm của Nguyễn Du với nỗi đau xé lòng của Kiều:

“Giây phút giác ngộ mà Nguyễn Du bắt gặp cũng là giây phút bừng nở hạnh từ bi, hàng tâm theo Phật „thuyết pháp độ nhân như hằng hà sa số“, từ đó phát tâm lân cảm vô hạn với nỗi đọa đày „đau đớn thay phận đàn bà[2 ]

 

Điều này có thể hoàn toàn đúng dưới một góc nhìn, nhưng nó không loại trừ cách nhìn khác: cái tâm đắc “Tài mệnh tương đố” của giới văn nhân tài tử, Kiều khóc Đạm Tiên, Nguyễn Du khóc Kiều, ba trăm năm nữa còn ai khóc Nguyễn Du, đều là đồng bệnh tương liên cả.

 

Tập đế:

 

Thái Kim Lan nhiệt thành ca ngợi mối tình Thúy Kiều Kim Trọng :

“Mối tình đầu vừa hé cánh cửa cho người con gái thấy cõi hạnh như chốn „động đào“, tràn đầy yêu thương và hi vọng của miền đất phúc „thiên thai“, với nỗi gắn bó „song song hai miệng một lời đinh ninh“ trước „vầng trăng vằng vặc“

 

Nhưng thiết nghĩ, dù đẹp đẽ đến đâu, mối tình này, ái dục này, chẳng phải là một biểu hiện của vô minh sao? (nếu như tác giả không có ý định bác bỏ nguyên lý “Tu là cỗi phúc, tình là dây oan” - tư tưởng nhà Phật hay cũng là của chính Nguyễn Du?)

 

Thái Kim Lan say sưa ca ngợi “khát vọng đoàn viên” của Kiều trong bước đường lưu lạc, lòng thương cha nhớ mẹ, nhớ cảnh gia đình êm ấm xưa kia. Nhưng cái tham luyến ấy chính là cái mà nhà Phật gọi là phiền não. Đó chỉ là những tình cảm rất thông thường của con người, nhưng ở nàng Kiều tài hoa, nó sâu đậm khác thường. Muốn bước lên đường giải thoát thì phải ly nó ra, xả nó đi, chớ có đâu cứ khư khư ôm lấy nó mà tưởng rằng nó là phương tiện giải thoát?

 

Dù Phật giáo Bát nhã có cái nhìn hết sức cởi mở đối với chữ “Tình” thì ta thấy vẫn có chỗ khác biệt, “có điều kiện”. Đối với Thái Kim Lan thì điều kiện đó là chữ TRINH -“ái mà không dâm”. Chúng ta thấy rõ tình của Thuý Kiều ở đoạn đoàn viên này không còn là cái tình say đắm ban đầu nữa, mà đã khác hoàn toàn về chất. Có lẽ đây chính là điểm làm thất vọng những người vốn nặng lòng với mùi tục luỵ của TÌNH, những người nghiêng về Thị Mầu hơn là Thị Kính, như Xuân Diệu chẳng hạn.

Diệt đế:

 

“Đắm chìm trong thân phận ấy, con người có thể có hai thái độ, như Kiều đã có: tuyệt vọng phẫn uất và khao khát được giải thoát, tìm mọi cách để giải thoát. Chính vì đi đến tận cùng của cái khổ, con người mới khát khao sự diệt khổ. Diệt khổ có nguyên nhân đã nằm sẵn trong „chân lý“ đời là bể khổ, chứ không nằm ở một thế lực nào khác. Trong ý nghĩa ấy, bị đoạ đày và mong ước giải thoát trên phương diện triết lý và tu chứng cùng nằm trên một bình diện và cùng trong hiện tại; đồng thời đạo Phật cũng nhấn mạnh, đời người trăm năm là mảnh đất tốt nhất để thực hiện giải phóng, đạt giác ngộ.”

 

Ước vọng của con người trái lại, và đây chính là diệu đế thứ ba (Tôi nhấn mạnh-HT), là được giải phóng toàn diện lên trên vòng sinh tử ấy mà chỉ có cuộc sống mới cho con người cơ hội thực hiện giác ngộ để giải phóng. [2 ]  

 

Diệt khổ thực ra có điều kiện tiên quyết nằm ở chân lý thứ hai (tập đế). Con người có khổ và có khao khát diệt khổ đi nữa, nhưng nếu không có liễu tri về nguyên nhân của khổ theo Phật giáo, thì làm sao được giải thoát theo con đường của Phật?. Trong Truyện Kiều qua tâm tư và ngôn ngữ của Kiều, không chỗ nào thấy nói đến điểm này.

 

Tóm lại, có thể qua cuộc đời oan khổ của nàng Kiều để luận về khổ đế, nhưng Truyện Kiều và Nguyễn Du đã chẳng cho ta biết gì về ba diệu đế sau cả.

 

2. Nghiệp

 

Tư tưởng về nghiệp trong Truyện Kiều được bộc lộ rõ hơn. Nguyễn Du viết : “Đã mang lấy nghiệp vào thân, cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa”. Tuy nhiên, tư tưởng này cũng vẫn chung sống với các tư tưởng khác chứ không phải là chủ đạo, lấn át như Thái Kim Lan kết luận.

 

Ngẫm hay muôn sự tại trời

Trời kia đã bắt làm người có thân.

Bắt phong trần phải phong trần

Cho thanh cao mới được phần thanh cao

Có đâu thiên vị người nào,

Chữ tài, chữ mệnh, dồi dào cả hai.

Có tài mà cậy chi tài?

Chữ tài đi với chữ tai một vần

Đã mang lấy nghiệp vào thân

Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa

Thiện căn ở tại lòng ta

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài

 

Trong đoạn thơ trên đây, mở đầu bằng chữ Ngẫm hay, toàn là phát biểu của Nguyễn Du, chứ đâu phải “chỉ bốn câu cuối nói lên chủ trương của tác giả nghiêng hẳn về lý thuyết Phật giáo” [2 ]

Câu thơ “Trời kia đã bắt làm người có thân” được Thái Kim Lan diễn giải là thân nghiệp. Nếu đúng thế thì ở câu này đã là tư tưởng Phật giáo. Nhưng câu này lại liền mạch tư tưởng với bốn câu sau, nói về tài- mệnh. Ngay cả câu “Trời kia đã bắt làm người có thân” cũng gợi cho ta nghĩ ngay đến câu

 

“Ngô sở dĩ hữu đại hoạn giả vị ngô hữu thân. Cập ngô vô thân, ngô hữu hà hoạn?”

của Lão Tử, dù cho có thể đây là chỗ gặp nhau giữa Phật và Lão. Ngay chữ “thiện căn” cũng có thể thấy nó gần với “tính bản thiện” của Mạnh Tử hơn là cái quan niệm khá đặc biệt của Thái Kim Lan “Chữ TRINH như „thiện căn ở tại lòng ta“ [2 ]

 

Ở đây cũng như ở những chỗ khác, Nguyễn Du không “dùng tư tưởng Phật giáo để phê bình Nho giáo”.[2 ] Ông chỉ nói lên tư tưởng của mình, một tư tưởng hỗn hợp cả Phật - Lão –Nho, cả những tâm lý đã tồn tại dài lâu trong dân chúng, niềm tin ngây thơ về một ông trời thưởng phạt, vốn rất xa với tư tưởng Phật học. Rất có thể Nguyễn Du thiên về Phật hơn Nho, nhưng điều đó ông không có hàm ý ở đây. Sự so sánh đánh giá nằm ở chủ quan người đọc.

 

3. Sự thuần nhất của tư tưởng Phật học

 

Một điều đáng chú ý là trong truyện Kiều, người nói lên cái tư tưởng về nhân quả, về nghiệp lại chính là Đạm Tiên, một bóng ma, Hội viên Hội Đoạn Trường, một hiện thân của thuyết Tài-Mệnh tương đố:

 

“Âu đành quả kiếp nhân duyên”

(câu 201, Báo mộng lần thứ nhất)

“Rỉ rằng : nhân quả dở dang

Đã toan trốn nợ đoạn tràng được sao,

Số còn nặng nợ má đào

Người dù muốn quyết, trời nào đã cho”

(câu 995-998, Báo mộng lần thứ hai)

 

Cái tiền oan nghiệp trái ở đây được xử lý bởi một ông trời!

 

Nhân vật thứ hai diễn giải về chữ NGHIỆP của Kiều là bà Tam Hợp đạo cô, là người mà Giác Duyên, người quan tâm đến vận mệnh của Kiều thường tham vấn. Bà đạo cô này là một tiên tri, thường hé hộ thiên cơ, cả đến sự cân nhắc thưởng phạt của trời, chính nhờ bà này mách trước đia điểm gieo mình của Kiều mà Giác Duyên vớt được nàng, tạo ra cơ hội tái sinh, chuyển nghiệp! Trên bình diện tư tưởng, bà Tam Hợp đạo cô (cái tên có nói lên gì về hợp lưu của ba đạo không nhỉ) phải được coi ngang hàng với thày phi phù trí quỷ ở chỗ Thúc Sinh, một dạng mê tín dị đoan mà các bậc chân tu luôn bài bác.

 

Theo Hoàng Ngọc Hiến:

“Tư tưởng “nhân quả“ khẳng định quan hệ nhân quả giữa kiếp này và kiếp trước, kiếp sau. Nội dung hình tượng Truyện Kiều chỉ nói về kiếp này của nàng Kiều. Như vậy, quan hệ “nhân quả“ không được bộc lộ ở ngay nội dung của tác phẩm. Đó là một quan hệ không có nội dung… Như vậy trong Truyện Kiều, triết lý Phật giáo là ngôn ngữ Phật giáo, là những lời giải thích nhưng không phải phải là ý nghĩa đích thực của nội dung hình tượng tác phẩm [3 ]

 

Theo chúng tôi, chỗ này Hoàng Ngọc Hiến nói đúng vì nhân “Hiếu Tâm”động đến Trời với quả “đoàn viên” phúc sau dồi dào, qua lời Tam Hợp, không phải là ý nghĩa chữ nghiệp của đạo Phật. Trong chữ nghiệp của đạo Phật không có ông trời.....