Cỡ chữ: Vừa | Lớn | Lớn hơn

Sự ám ảnh về cái chết trong cuộc đời và tác phẩm của Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ

Phạm Ngọc Hiền

Có một câu danh ngôn rất hay: “Sự chết là con lạc đà đen quỳ đợi ngay trước cổng nhà của tất cả mọi người” (Abe- el -Kader). Không ai tránh khỏi cái chết, bởi vậy không ai là không nghĩ đến nó. Nhưng vấn đề là quan tâm nhiều hay ít và bộc lộ sự ám ảnh đó dưới hình thức nào. Đối với nhiều văn nghệ sĩ, tác phẩm nghệ thuật là nơi thăng hoa và giải thoát thích hợp nhất cho những dự cảm và triết lý của họ về cái chết. Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ cũng vậy, cái chết của hai người dường như đã được báo trước trong những tác phẩm của họ.

           

Trước tiên, ta hãy nói đến Xuân Quỳnh (1942 – 1988). Phải nói, đại đa số thơ của chị (viết cho người lớn) mang nặng nỗi ám ảnh về cái chết, sự chia lìa, tàn tạ. Thống kê 6 tập thơ mà chị công bố lúc còn sống, ta thấy số lượng và tỷ lệ bài đề cập đến nội dung này như sau: Chồi biếc (in năm 1963) : 9 (50%); Hoa dọc chiến hào (1968) : 21 (75%); Gió Lào cát trắng (1974) : 31 (86%); Lời ru trên mặt đất (1978) : 24 (75%); Sân ga chiều em đi (1983) : 44 (71%); Tự hát (1984) : 31 (89%). Tổng cộng các tập, ta có tỷ lệ 76%. Đó là hiện tượng hy hữu trong thơ ca cách mạng Việt Nam. Và đó cũng là bản lĩnh của Xuân Quỳnh vì trong bối cảnh thời đó, người ta không khuyến khích viết về nỗi buồn và cái chết, sợ nó ảnh hưởng không tốt đến lòng tin và sức chiến đấu của mọi người. Nhưng biết làm sao được, vốn là người đa cảm, Xuân Quỳnh không thể thờ ơ được trước cái chết của đồng bào mình sau “Mười hai ngày” gánh chịu những trận mưa bom B.52 của giặc: “Mười hai ngày cùng tận của lòng đau/Cô Ngọc Tường chết ở Bạch Mai/Chiếc áo cưới thay cho vải liệm/ Gió đông bắc thổi qua nền gạch vụn/ Trên máu người bị giết ở Khâm Thiên”. Những câu thơ đó gợi lên lòng căm thù giặc hơn là bi lụy. Dành hết trí lực để quan tâm nhiều đến cái chết của đồng bào, cho nên có lúc, chị sẵn sàng xoá tên người yêu ra khỏi bộ nhớ của mình: “Dẫu trong em một tình yêu đã mất/ Em không còn đủ sức nghĩ về anh”. Riêng “Vết đạn trên tường thì cứ ám ảnh chị, bởi nó  hiện thân cho sự chết chóc : “Nhiều việc quá, khó ai mà nhớ hết. Riêng vết đạn trên tường không dễ nào quên”. Không riêng gì Xuân Quỳnh mà bất cứ ai thời đó cũng bị ám ảnh bởi cái chết, bởi “Các bãi sông đầy bom nổ chậm”, “Mọi con đường mang nỗi đau đạn lửa…” .Sự hiểm nguy và chết chóc đã trở nên quá quen thuộc với mọi người : “Đã quen nhiều gian khổ/ đã quen nhiều hy sinh”.  Trong “ngàn cái chết” mà Xuân Quỳnh gặp, có nhiều đồng đội vừa mới kề vai sát cánh với chị “Các anh nằm bên những ngã ba./ Nơi bom dội không còn ngọn cỏ” , “Dòng nước lợ mang máu anh về bể” , “Máu của cô nhuộm đỏ bờ lau” … Xuân Quỳnh không hề dùng biện pháp nhã ngữ để làm giảm bớt tính khốc liệt của cuộc chiến. Chị cứ nói thật những nỗi đau mà chính chị cũng đã từng trải “Máu đồng đội và máu tôi đã đổ/ Trên cát này mà gió quạt vừa se” (Gió Lào cát trắng); “Máu của em, máu của anh/ Thấm bên góc phố, chân thành ngày xưa” (Lai lịch một tình yêu). Thơ Xuân Quỳnh đề cập quá nhiều đến cái chết, mặc dù chị vẫn biết rằng “Người chết sẽ chẳng bằng lòng nếu chúng tôi quá đau thương”.Bởi vậy, chị cũng biết “Hát với con tàu nhưng tiếng hát ấy vẫn không át được tiếng gầm thét của con tàu lao ra trận tuyến. Và vẫn không xua tan được nổi ám ảnh về cái chết vì chính chị cũng đang xông xáo lao vào những nơi ác liệt nhất: “Tôi sẵn sàng đem hiến cả đời tôi/ Cho cát trắng và gió Lào quạt lửa”, “Sống đất này, chết cũng đất này thôi”… Mặc dù sống trong bom đạn suốt 30 năm, nhưng may thay chị đã không chết vì bom đạn.

           

Chiến tranh không phải là nguyên nhân duy nhất làm cho Xuân Quỳnh luôn bị ám ảnh về cái chết. Từ ngàn xưa, con người đã lo nghĩ về nó, như một nhà nghiên cứu văn học đã nhận định: “Nỗi day dứt vào bậc nhất trong suy cảm trữ tình của con người bao đời nay là day dứt về chuyện CÒN – MẤT của những gì với mình là quý  giá thiêng liêng. Người càng giàu tiên cảm, giàu dự cảm lo âu về mất mác rủi ro, thì day dứt càng ám ảnh hơn (I, tr 26). Thơ Xuân Quỳnh tràn ngập những suy tư, trăn trở về việc sống – chết. Vì sao mà hình thành một cái tôi Xuân Quỳnh mang nhiều ám ảnh về cái chết như vậy?. Hãy đi ngược dòng thời gian để  tìm về thời thơ ấu của chị. Mẹ Xuân Quỳnh mất khi chị còn quá nhỏ, cha liền lấy vợ khác rồi vào Nam sinh sống. Suốt đời Xuân Quỳnh thiếu thốn tình cảm của cha mẹ. Theo lời Đông Mai (Chị ruột Xuân Quỳnh) “Nỗi đau mất mẹ đã ám ảnh suốt một đời Quỳnh (II, tr 278). Chị đã sớm hình thành nỗi đau của một đứa trẻ bơ vơ côi cút giữa dòng đời “Tuổi thơ tôi lạc lõng giữa đời/ Như một cánh chim bơ vơ mất tổ” (Tiếng mẹ). Mới “Mười bảy tuổi”, đã sớm lo âu trăn trở về lẽ sinh – diệt của vạn vật. Trong bài “Chồi biếc”, cô thiếu nữ Xuân Quỳnh đã dự cảm về cái chết :  Này anh, em biết/ Rồi sẽ có ngày/ Dưới hàng cây đây/ Ta không còn bước/ Như người lính gác/ Đã hết phiên mình/ Như lá vàng rụng/ Cho trời thêm xanh”. Thơ Xuân Quỳnh thường mang nặng nỗi ám ảnh tàn phai, tiêu biểu là bài “Thơ tình cuối mùa thu”, bài thơ đã được phổ nhạc và được giới trẻ rất yêu thích: “Cuối trời mây trắng bay/ Lá vàng thưa thớt quá/ Phải chăng lá về rừng/ Mùa thu đi cùng lá”… Xuân Quỳnh thường ví mình với những sự vật nhỏ nhoi, yếu ớt : Lá vàng, hoa rơi, hoa dại, cây tứ quý đất nghèo, cây kinh giới bùn lầy, hoa cỏ may dân dã, hoa cúc nhỏ nhoi, hoa tường vi nhỏ nhắn … Chị còn ví mình như “Hoa Ti gôn” : “Cánh hoa như lệ vỡ/ Như máu vừa mới sa/ Như hàng vạn giọt mưa/ Của nỗi buồn không dứt”. Nói chung đó là những bông hoa buồn nhỏ bé tội nghiệp nép mình “Trong mảnh vườn đã tối”. Chị cũng dùng rất nhiều hình tượng con tàu – sân ga (và thuyền – biển) để thể hiện sự chia ly, cách trở. Chị có rất nhiều câu thơ thể hiện nỗi buồn đau day dứt như : “Tránh sao khỏi sầy da rớm máu” ,  “Áo em rộng, lòng em tan nát”,  “Xém lòng một vết đau”,  “Qua cay đắng với buồn vui đã nhiều” ,  “Nỗi đau buồn dồn xuống đáy tâm tư” … Và có thể còn rất nhiều câu thơ buồn hơn thế nữa nhưng không được công bố. Trong số bảy tập thơ của chị đã công bố, nỗi buồn thể hiện rõ nhất ở hai tập cuối : Tự hát (1984) và Hoa cỏ may (1989). Trong tập Hoa cỏ may (Giải thưởng văn học 1990 của Hội nhà văn), trái sầu đã đạt đến độ chín mùi, khi nỗi “nhức nhối đắng cay” đã “đến tận cùng đau đớn”. Lúc mà ở ngoài đời chị càng lặng lẽ thì trong thơ chị chứa “Bão táp ở từng trang” Chị như con “Chuồn chuồn báo bão” đã biết trước được cơn bão tố sắp ập đến, và nạn nhân sẽ là nó nhưng cánh chuồn yếu ớt, bơ vơ làm sao chạy trốn khỏi định mệnh.

           

Thần Chết thường là bạn đồng hành với Thời Gian. Những người đa tình, ham sống thường rất ghét Thời Gian. Nữ sĩ Xuân Hương than thở “Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại”, Xuân Diệu cũng chua chát thốt lên : “Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất” . Vốn cũng mang trong mình chữ “Xuân” nên Xuân Quỳnh cũng không khỏi lo âu và tự hỏi “Mùa xuân sẽ về đâu/ Khi nơi này xuân hết?” (Mười bảy tuổi). Khi thấy “Thoáng sợi bạc trên mái đầu bỡ ngỡ”, chị càng lo cho sự phai tàn của xuân sắc, vì rằng số lượng nếp nhăn và sợi tóc trắng bao giờ cũng tỷ lệ nghịch với số lần hôn nhau và nhìn nhau say đắm. Là một người nhạy cảm, Xuân Quỳnh rất lo sợ cho thân phận tình yêu : “Em đâu dám nghĩ là vĩnh viễn/ Hôm nay yêu, mai có thể xa rồi/ Niềm đau đớn tưởng như vô tận” (Nói cùng anh). Rồi chị lại lo cho một ngày “Cuộc sống trở về bình yên”, con người sẽ tha hoá, không còn giàu cảm xúc để yêu nhau và để làm thơ : “Và trong em không thể còn anh/ Nếu ngày mai em không làm thơ nữa”. Yêu nhiều và lo lắng quá nhiều thứ  trong cuộc sống đời thường như vậy đã làm cho con tim Xuân Quỳnh mệt mỏi. Chị đã cảm nhận điều đó trong bài “Tự hát” : “Em lo âu trước xa tắp đường mình/ Trái tim đập những điều không thể nói/ Trái tim đập cồn cào cơn đói/ Ngọn lửa nào le lói giữa cô đơn”. Chị đã biết trước đời mình như một ngọn đèn le lói sắp tắt. Tháng 6/1988, Xuân Quỳnh bị đau tim nặng phải vào bệnh viện. Trên giường bệnh, chị làm bài thơ “Thời gian trắng”  thể hiện rõ sự ám ảnh về cái chết : “Em ở đây không sớm không chiều/ Thời gian trắng, không gian toàn màu trắng/ Trái tim đập sau làn áo mỏng/ Từng đập vì anh, vì những trang thơ/ Trái tim nay mỗi phút mỗi giờ/ Chỉ có đập cho mình em đau đớn/ Trái tim này chẳng còn có ích/ Cho anh yêu, cho công việc, bạn bè”. Chị đã nhìn thấy rõ ràng Thần Chết đang đợi chị. Theo lời thuật của bà Vũ Thị Khánh (mẹ chồng Xuân Quỳnh) : “Bác sĩ bảo bệnh của Quỳnh rất nặng, chỉ sống được vài năm nữa thôi” [I, tr 272]. Nhưng Xuân Quỳnh đã không chết vì bệnh tim .

           

Chồng chị, Lưu Quang Vũ (1948-1988) cũng giống chị ở chỗ, có một giọng thơ buồn ám ảnh và nhìn chung là lạc điệu giữa môi trường văn học thời ấy. Trong cảnh chiến tranh, mối quan tâm hàng đầu của anh vẫn là cái chết của đồng loại. Anh đã “Nói với con cuối năm”:Thành phố vừa trải qua/ Những trận bom huỷ diệt/ Lòng cha giờ dập nát/ Những xác người máu loang/ (…) Cha làm sao nói được/ Những nỗi đau lầm lạc đợi trên đường/ Cái ác đen sì trong mỗi quả bom”. [V] Bên cạnh nỗi đau chung của cả thời đại, anh cũng có nỗi buồn mang tính cá nhân: “Anh là con ong bay giữa trời lận đận”, “Đã chết rồi ơi chú ong nâu” (Bầy ong trong đêm sâu). Nhà phê bình Vương Trí Nhàn nhận xét: “Thơ anh có phần ngả sang giọng xót xa, tê tái (…) đôi khi, người ta còn bắt gặp nơi anh một nỗi buồn mạnh mẽ, gần giống như sự phẫn uất” [VI, Tr.11]. Như vậy, ta có thể nói rằng: “Sự buồn rầu và chán đời luôn thường trực trong tâm trạng anh”, đến khi nổi tiếng trong làng kịch “Anh vẫn buồn. Phải chăng là định mệnh” (Nguyễn Thị Hồng Ngát) [I, tr 230]. Vào những năm 1980, Lưu Quang Vũ trở thành ngôi sao sáng trên sân khấu kịch trường Việt Nam. Anh đã thổi một luồng gió mới vào đời sống nghệ thuật nước nhà và nhiều vở kịch của anh đã có tác dụng rất lớn đến xã hội Việt Nam lúc đó. Tên tuổi lừng danh như vậy đáng lẽ anh phải vui nhưng rất nhiều vở kịch của anh vẫn thể hiện sự ám ảnh về cái chết. Trong bài “Phép ứng xử với cái chết trong kịch Lưu Quang Vũ”,  nhà phê bình Phan Trọng Thưởng viết : “Hầu như ít vở kịch nào của Lưu Quang Vũ cái chết không được nhắc đến(I, tr 134), “Sự ra đi của anh có gì như huyền bí, như là có sự chuẩn bị trước ở đâu đó rồi, ngay cả trong linh cảm của anh” (I, tr 138). Tác phẩm cuối cùng mà anh đang viết dở dang là “Chim sâm cầm đã chết”, anh ví mình như một loài chim quý hiếm, tuy đã được hoá thân nhưng những gì đã làm được cho đời vẫn còn sống mãi. Đấy là “Điều không thể mất(tên vở kịch hoàn chỉnh cuối cùng của đời anh). Vâng, “Cái chết sẽ không tồn tại khi một người đã hoàn thành tốt đẹp sự nghiệp của cuộc sống” (Hô-xê mác-ti)

           

Sự ra đi đột ngột của một nhà thơ và một nhà soạn kịch nổi tiếng đã gây chấn động cả nước. Hàng triệu con tim yêu thích nghệ thuật đã thổn thức đau buồn và luyến tiếc cho hai tài năng lớn đã ra đi trong khi sức sáng tạo vẫn còn dồi dào và hứa hẹn sẽ cống hiến nhiều hơn cho đất nước. “Sự phi thường và tài năng nở rộ như huyền thoại đã  đem đến sự giải thích về cái chết của anh màu sắc huyền bí” (Phạm Thị Thành) [I, tr. 223]. Ta hãy theo dòng dư luận để thử xem cái chết của họ có được báo  trước hay không. Theo Lưu Quang Định, thì thời còn đi học phổ thông, Lưu Quang Vũ đã ghi nhật ký (ngày 8/11/1964) như sau :  “Thần chết ơi, ta chẳng cần nhiều đâu. Độ 20 năm nữa, khi ta đã trả nợ xong, khi có thể coi là đã làm được chút gì đó cho đời, ta sẽ chẳng ân hận gì khi nhắm mắt. Đấy, chỉ tiêu của ta có ngắn ngủi không ? ”. [I, tr. 242]. Trước khi chết mấy ngày, Lưu Quang Vũ có tâm sự với nhà phê bình Phan Trọng Thưởng : “Người ta bảo mình không thọ lâu, chẳng biết đúng hay sai” [I, tr.138]. Còn Nguyễn Thuỵ Kha thì kể lại : “Hôm được tin Vũ mất, trước nửa giờ, ở giữa sân khấu lớn Hà Nội, cả một tràng pháo dài trang trí cho kịch “Bệnh sĩ” của Vũ đã rơi xuống tôi và nhạc sĩ Đặng Hữu Phúc. Cái áo trắng tôi mặc bị hoen đầy màu đỏ, đỏ như máu (…) tôi vẫn nghĩ đó là thông báo cuối cùng của Vũ với bạn bè trước lúc đi xa mãi mãi” [IV, tr.175]. Họa sĩ Doãn Châu, người thân cuối cùng chứng kiến cái chết của họ, đã kể lại như sau : Hôm ấy là ngày 29/8/1988, tức là tháng 7 âm lịch (tháng cao điểm của tai nạn giao thông hàng năm), và chỉ sau ngày rằm xá tội vong ân có mấy hôm (rất tiếc là hiện nay, có quá nhiều người thờ ơ với lễ tục đầy tính nhân văn này). Chiếc Com-măng-ca chở 6 người : Vũ – Quỳnh và cháu Lưu Quỳnh Thơ (13 tuổi), Doãn Châu cùng vợ và con nhỏ. Xe đang đi từ Hải Phòng về Hà Nội, ngang qua địa phận Hải Dương thì bị chiếc xe ô tô chở than phóng với tốc độ lớn đâm vào phía sau. Điều lạ thường là gia đình hoạ sĩ Doãn Châu đều bình yên vô sự. “Hình như số phận đã sẵn lòng ghen ghét, đố kỵ với tài hoa nên cả 6 người cùng ngồi trên một xe, cùng một khoảnh khắc nghiệt ngã mà Vũ, Quỳnh, cháu Mí thì đã vĩnh viễn bị cướp đi…” (Doãn Châu – “Niềm bí ẩn của sáng tạo và sự chết”) [I, tr. 202].

           

Sau tai nạn thảm khốc đó, người ta đã đưa ra nhiều giả thiết khác nhau để chứng minh rằng, số phận nghiệt ngã của Xuân Quỳnh đã được báo trước trong cuộc đời và tác phẩm của chị. Có người đã “xem tướng số” qua đôi mắt và giọng nói của chị như sau: Đôi mắt “Vừa chăm chắm, vừa phiền muộn và đâu đó hình như có những giọt nước mắt ngấp nghé chỉ muốn trào qua bờ mi. Đặc biệt nhất là giọng nói, bao giờ giọng nói của Quỳnh cũng run rẩy nghẹn ngào như có tiếng khóc ở bên trong. Bằng vào hai thông số đặc biệt ấy của chân dung, người ta không thể đoán định một số phận tốt hơn cho Xuân Quỳnh” (Nguyễn Thị Minh Thái – “Một giọng thơ tình ám ảnh”) [I, tr. 46]. Vì sao Xuân Quỳnh phải chịu một số phận nghiệt ngã như vậy, bởi chị có tài sắc hơn người. “Thật hiếm có người đàn bà vừa có tài, có sắc đẹp, lại có trí tuệ sắc sảo như Xuân Quỳnh” (Nguyễn Thị Như Trang) [II, tr. 349]. Bởi vậy, nói như Nguyễn Du : “Chữ tài liền với chữ tai một vần” , “Tài tình chi lắm cho trời đất ghen”, “Rằng hồng nhan tự nghìn xưa/ Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu” … Có lẽ dự cảm được số phận của mình như vậy nên Xuân Quỳnh đến với thơ để giải thoát bớt niềm đau: “Cuộc đời và thơ Xuân Quỳnh là một nỗ lực thoát khỏi  chơ vơ định mệnh (…) và phải đến khi tai nạn phủ phàng ập xuống quá bất ngờ, người đời mới thấy rằng những dự cảm lo âu suốt một đời người, một đời thơ ấy sao mà linh nghiệm” (Chu Văn Sơn) [I, tr. 30]. Còn Lưu Khánh Thơ cũng thừa nhận : “Có cái gì như là định mệnh khi chị kết thúc cuộc đời cùng chồng con vào một ngày tháng 8 đau xót. Chị vĩnh biệt chúng ta vào mùa thu. Những bông hoa cúc vàng mà chị đã từng yêu, từng nói đến trong các bài thơ đã phủ kín ngôi mộ. Những bông hoa phúng điếu, tưởng niệm rồi sẽ tàn” [I, tr. 41] .

Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ có nhiều điểm tương đồng nhau: từng có một lần hôn nhân dang dở và mỗi người có một con riêng. Từng đứng trên trận tuyến chống chiến tranh phá hoại miền Bắc và đối diện thường xuyên với cái chết. Thơ của hai người đều thể hiện sự ám ảnh về cái chết và mang âm hưởng buồn. Từ khi hai người đến với nhau, hai nỗi buồn được cộng lại tạo ra nỗi buồn lớn hơn, và cũng từ đây, sự nghiệp của họ đạt tới đỉnh cao. Nói như thi sĩ Pháp Muytxê : “Không có gì làm cho ta lớn bằng một nỗi đau lớn. Tiếng hát tuyệt vọng là tiếng hát tuyệt vời nhất”.      

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

   1- Xuân Quỳnh –Lưu Quang Vũ, tình yêu và sự nghiệp – Lưu Khánh Thơ biên soạn – NXB hội nhà văn – H.1994

   2- Nữ sĩ Xuân Quỳnh, cuộc đời để lại – Ngân Hà biên soạn – NXB Văn hoá thông tin, H. 2001.

   3- Xuân Quỳnh, thơ và đời, Vân Long biên soạn – NXB Văn hoá, 1995.

   4- Phê bình, bình luận văn học : Quang Dũng, Nguyễn Mỹ, Xuân Quỳnh – Vũ Tiến Quỳnh biên soạn – NXB Văn nghệ, 1995.

   5- Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh gửi lại – Hội văn học nghệ thuật Đà Nẵng – 1989.

   6- Thơ Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ – Vương Trí Nhàn giới thiệu, tuyển chọn – NXB Giáo dục – 2002.

 

* Có thể đặt lại tên tác phẩm là :

    - Dự cảm về cái chết trong sáng tác của Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ.

   - Xuân Quỳnh- Lưu Quang Vũ và cái chết đã được báo trước.

   - Có phải chăng : Cái chết của Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ đã được báo trước trong những sáng tác của họ?