Cỡ chữ: Vừa | Lớn | Lớn hơn

Chia tay thôi, Columbus

Philip Roth

Xem nhanh:

1

Lời nói đầu Philip Roth (sinh năm 1933) Nhà văn có những tác phẩm đặc trưng với đối thoại sắc bén, mối quan tâm đến đời sống của người Do Thái trung lưu, và những quan hệ bi đát giữa tình yêu trai gái và tình yêu gia đình.

Roth tốt nghiệp Đại học Chicago và bắt đầu nổi tiếng với Goodbye Columbus ('Chia tay thôi, Columbus', 1959; giải National Book Award 1960). Tiểu thuyết đầu tiên của ông, Letting Go ('Buông thả, 1962), và cuốn kế, When She Was Good ('Khi nàng còn tốt', 1967) đều không thành công lắm cho đến khi ông viết Portnoy’s Complaint ('Lời khiếu nại của Portnoy, 1969). Cuốn này được xếp vào loại kinh điển của văn học Mỹ gốc Do Thái, mô tả những đau khổ và thiệt hại mà bối cảnh văn hóa đã gây ra cho nhân vật Portnoy. Mấy tác phẩm đáng kể khác của ông là The Ghost Writer ('Kẻ viết thuê', 1979), Zuckerman Unbound ('Zuckerman vô hạn định', 1981), Anatomy Lesson ('Bài học giải phẫu', 1983), The Counterlife ('Phản sinh', 1986) và American Pastoral ('Điền dã Hoa-kỳ', 1997; giải Pulitzer 1998).

Goodbye Columbus gồm tám chương, kể về một mối tình ngắn ngủi – chỉ một mùa hè – giữa một chàng trai Do Thái nghèo sống tự lập và con gái một gia đình thị dân Do Thái trung lưu. Chàng trai luôn cảm thấy một tương lai tan vỡ cho mối tình của họ, nhưng thực ra trở ngại với anh chính là lối sống thực dụng và các thành kiến của gia đình cô gái.



Lần đầu tiên tôi gặp Brenda nàng nhờ tôi giữ giùm cặp kiếng. Rồi nàng bước tới mép tấm ván nhún và nhìn mơ màng xuống hồ; có thể nước đã bị tháo sạch, và Brenda cận thị chắc không hề biết điều đó. Nàng lao xuống rất đẹp, và giây lát sau đã bơi trở lại mé hồ, mái tóc hung đỏ cắt ngắn của nàng cất cao, vươn tới trước, cứ như đóa hồng trên một cuống dài. Nàng lướt tới mép hồ và thế là đến cạnh tôi. “Cám ơn nghe,” nàng nói, đôi mắt long lanh tuy không phải do nước. Nàng chìa tay nhận cặp kiếng nhưng không đeo lên cho đến khi quay lưng và bỏ đi chỗ khác. Tôi nhìn nàng xa dần. Đột nhiên nàng thò tay ra sau, bằng ngón trỏ và ngón cái, nàng kéo đũng quần và đẩy phần da thịt lộ ra trở về đúng chỗ của nó. Máu me tôi nhảy tưng một nhịp.

Tối đó, trước bữa ăn, tôi gọi cho nàng.

“Mày gọi ai vậy?” Dì Gladys của tôi hỏi.

“Cô bạn mới gặp bữa nay.”

“Doris giới thiệu hả?”

“Doris không chịu giới thiệu con với cái thằng tháo nước hồ đâu, Dì Gladys.”

“Mày đừng có lúc nào cũng chỉ trích thế. Bà con vẫn là bà con. Sao mày quen được nó?”

“Thực ra con đâu quen cô ấy. Con chỉ thấy thôi.”

“Đứa nào vậy?”

“Họ cô ta là Patimkin.”

“Patimkin tao không biết,” Dì Gladys nói, cứ như bà biết bất cứ ai trong Câu lạc bộ Green Lane Country vậy. “Mày tính gọi mà không quen biết trước gì cả à?”

“Vâng,” tôi giải thích. “Con sẽ tự giới thiệu.”

“Đồ Casanova,”
(#1) dì ấy phán rồi tiếp tục chuẩn bị bữa tối cho chú tôi. Nhà chúng tôi không dùng bữa với nhau: dì Gladys ăn lúc năm giờ, cô em họ Susan của tôi lúc năm rưỡi, tôi sáu giờ, còn chú tôi sáu rưỡi. Chẳng có gì giải thích được chuyện này hơn cách kết luận rằng bà dì tôi khùng.

“Danh bạ điện thoại ngoại ô đâu rồi?” Tôi hỏi sau khi lôi hết mọi cuốn sách dưới gầm bàn điện thoại ra.

“Cái gì?”

“Danh bạ điện thoại ngoại ô. Con muốn gọi tới Short Hills.”

“Cuốn mỏng teng đó hả? Ôi, bộ tao phải chứa trong nhà cái thứ đó sao, tao có bao giờ xài tới nó đâu?”

“Nó đâu rồi?”

“Dưới tủ chén chỗ chân tủ bị sút ra đó.”

“Lạy chúa tôi,” tôi kêu lên.

“Gọi cho tổng đài thì hơn. Mày vào bếp moi móc trong đó rồi làm lộn tung mấy ngăn kéo của tao cho coi. Đừng quấy tao nữa, mày biết chú mày sắp về tới mà. Tao cũng chưa cho mày ăn được nữa.”

“Dì Gladys, coi như tối nay nhà mình dùng bữa chung nghe. Trời nóng mà, vậy tiện cho dì hơn.”

“Hay dữ, tao sẽ phải dọn bốn phần ăn khác nhau một lượt. Mày ăn thịt chiên tảng, Susan ăn pho mát trắng, ông Max ăn bipstếch. Tối thứ Sáu là ăn bipstếch mà, tao không cấm ông ấy được. Còn tao thì thịt gà nguội. Tao phải tưng lên tưng xuống cả hai chục lần sao? Tao là cái gì, con ngựa cày chắc?”

“Sao cả nhà mình không cùng ăn bipstếch, hay gà nguội…”

“Tao coi sóc cái nhà này hai chục năm rồi. Đi gọi điện cho con bạn mày đi.”

Nhưng khi tôi gọi, Brenda Patimkin không có nhà. Cô nàng ăn tối ở câu lạc bộ, một giọng phụ nữ cho tôi biết như thế. Rồi cô ấy có về nhà không (giọng tôi lúc đó cao hơn giọng một cậu trong dàn đồng ca tới hai quãng tám)? Tôi không biết, giọng đó đáp, có thể nó sẽ đi chơi golf. Ai đầu dây vậy? Tôi lắp bắp vài lời… chẳng là gì cả cô ấy không biết đâu tôi sẽ gọi lại không nhắn gì đâu ạ cám ơn xin lỗi đã quấy rầy… tôi gác máy trong khi còn dang dở chuỗi lảm nhảm ấy. Rồi bà dì gọi và tôi gồng mình chuẩn bị vào bữa tối.

Bà đẩy cái quạt máy rù rì đen thui lên tốc độ cao và như thế nó làm chao đảo cả sợi dây điện lòng thòng từ cái đèn bếp.

“Mày muốn uống gì? Tao có bia gừng, nước khoáng, dâu đen, và một chai soda kem có thể khui được.”

“Không uống đâu, cám ơn.”

“Mày uống nước lạnh hả?”

“Con không uống trong bữa ăn. Dì Gladys, con đã nói với dì mỗi ngày suốt một năm nay rồi…”

“Ông Max uống được cả két chỉ với món gan bằm thôi. Ông ấy lao động cực nhọc cả ngày. Nếu mày lao động nặng thì chắc uống nhiều hơn.”

Ở chỗ lò bà chất một đĩa đầy món thịt chiên tảng, khoai tây luộc, nước chiên thịt, và đậu với cà rốt. Bà đặt đĩa trước mặt tôi và tôi có thể cảm thấy hơi nóng của thức ăn tỏa lên mặt. Rồi bà cắt hai miếng bánh mì và đặt kế bên tôi, trên bàn.

Tôi dùng nĩa tách một củ khoai tây làm hai và ăn, trong khi Dì Gladys, ngồi đối diện bên kia bàn, quan sát tôi. “Mày không thích bánh mì,” dì nói, “tao không cắt ra sợ nó mất ngon.”

“Con thích bánh mì chứ,” tôi nói.

“Mày không thích ăn chung với hạt phải không?”

Tôi xé một miếng bánh mì làm hai và ăn.

“Còn thịt thế nào?”

“Ồ, ngon.”

“Mày sẽ ngốn cả đống khoai tây với bánh mì rồi bỏ dư thịt làm tao phải đổ đi.”

Đột nhiên bà đứng bật khỏi ghế. “Muối!” Khi trở lại bàn bà dằn một lọ muối xuống trước mặt tôi – không bao giờ có tiêu trên bàn ăn trong nhà bà: bà nghe được trên chương trình của Galen Drake rằng cơ thể không hấp thụ được thứ đó và thật phiền cho Dì Gladys khi phải nghĩ rằng món gì đó do bà dọn lên lại chỉ đi qua thực quản, dạ dày và bộ ruột chỉ như đi du hành cho vui thôi.

“Mày sẽ nhặt hết đậu ra hả? Mày nói với tao vậy mà, tao không ưa nổi thứ cà rốt.”

“Con thích cà rốt,” tôi nói, “Con thích cả lũ cà rốt.” Và để chứng minh, tôi lùa cả đống cà rốt vào họng và lùa một nửa mớ đó nữa xuống quần dài.

“Heo,” dì ấy nói.

Tuy tôi rất khoái đồ tráng miệng, nhất là trái cây, nhưng tôi quyết định không ăn tí nào cả. Trong buổi tối nóng nực này, tôi muốn tránh bàn cãi việc tôi thích trái cây tươi hơn trái cây đóng hộp, hay trái cây đóng hộp hơn trái cây tươi; dù tôi thích thứ nào hơn thì Dì Gladys cũng có cả đống thứ ngược lại chất trong tủ lạnh cứ như kim cương đánh cắp vậy. “Nó thích táo đóng hộp mà tôi có đầy nguyên một tủ lạnh nho phải vứt bỏ…” Cuộc đời chỉ là việc vứt bỏ đối với Dì Gladys tội nghiệp, những niềm vui lớn nhất của dì là moi rác ra, dọn sạch tủ nhà bếp, và soạn những túi đồ cũ xì cho cái mà dì vẫn gọi là những người Do Thái tội nghiệp ở Palestine. Tôi chỉ mong dì qua đời khi tủ lạnh trống rỗng, nếu không dì sẽ phá hủy cõi vĩnh hằng của mọi người khác, dù đó là bất cứ gì, với món nho mốc xanh, và những trái cam trổ lông nấm bên dưới.

Chú Max của tôi về đến và trong khi tôi gọi số của Brenda lần nữa, tôi còn nghe được tiếng bật nút chai soda trong bếp. Lần này giọng trả lời điện thoại nghe cao, cụt lủn và mệt mỏi. “Alô.”

Tôi lao ngay vào bài diễn thuyết. “Alô-Brenda-Brenda cô không biết tôi tức là cô không biết tên tôi nhưng tôi đã giữ kiếng giùm cô chiều nay ở câu lạc bộ… Cô đã nhờ tôi làm thế tôi không phải hội viên nhưng em họ tôi Doris là hội viên ở đó Doris Klugman tôi đã hỏi cô là ai…” Tôi thở một phát, để cho nàng có cơ hội lên tiếng, và rồi nói tiếp khi thấy đầu dây bên kia vẫn im re. “Doris hả? Nó là đứa lúc nào cũng thấy đọc Chiến Tranh và Hòa Bình. Nhờ thế mà tôi biết đã tới mùa hè, mỗi khi thấy Doris đọc Chiến Tranh và Hòa Bình.” Brenda không cười; ngay từ đầu tôi đã thấy nàng là loại thực tế.

“Anh tên gì?” nàng nói.

“Neil Klugman. Tôi giữ kiếng cho cô ở chỗ cầu nhảy, nhớ hông?”

Nàng trả lời bằng một câu hỏi theo kiểu của nàng, một lối hỏi mà tôi dám chắc sẽ gây bối rối cho cả đứa xoàng xĩnh lẫn đứa điển trai. “Trông anh ra làm sao?”

“Tôi… da sậm.”

“Anh dân da đen hả?”

“Không,” tôi đáp.

“Vậy trông anh ra sao?”

“Tối nay tôi ghé chơi cho cô thấy tôi ra sao được không?”

“Hay lắm,” nàng bật cười. “Tối nay tôi chơi tennis.”

“Tôi tưởng cô đang chơi golf chứ.”

“Tôi chơi xong rồi.”

“Còn sau cữ tennis thì sao?”

“Sau cữ tennis chắc tôi mồ hôi mồ kê dữ lắm,” Brenda nói.

Câu này không phải để cảnh báo tôi hãy bịt mũi lại và chạy cho xa; mà đó là một dữ kiện, rõ ràng nó chẳng làm Brenda bối rối, nhưng nàng muốn tôi ghi nhớ.

“Đâu hề gì,” tôi nói, hy vọng rằng cái giọng đó giúp tôi chiếm được một vị trí đâu đó lưng chừng giữa bọn ở dơ và bọn câu nệ. “Tôi đón cô được không?”

Nàng im lặng một lát; tôi nghe nàng lẩm nhẩm, “Doris Klugman, Doris Klugman…” Rồi nàng nói, “Được, ở Briarpath, tám giờ mười lăm.”

“Tôi sẽ chạy cái xe…” tôi làm lơ không nói xe sản xuất năm nào, “Plymouth nâu. Vậy là cô sẽ nhận ra tôi. Còn tôi làm sao nhận ra cô?” Tôi nói với tiếng cười tinh quái xỏ lá.

“Thấy ai đang đổ mồ hôi thì biết chứ sao,” nàng nói và gác máy.

* * *

Khi lái xe ra khỏi Newark, qua Irvington và những ngã tư rối rắm nghẹt xe cộ, những khu lụp xụp của nhân viên đường sắt, những bãi gỗ súc, và những bãi xe cũ, thì trời đêm mát mẻ hơn. Làm như những ngoại ô vượt cao hơn Newark cả năm chục mét này đem người ta tới gần thượng giới hơn, vì mặt trời coi bộ cũng bự hơn, thấp hơn, và tròn hơn, và rồi tôi lái xe dọc những bãi cỏ dài làm như đang tự rưới nước vòng vòng lên chính chúng nó, và qua những ngôi nhà chẳng có ai ngồi ngoài hàng hiên, bên trong sáng đèn nhưng chẳng cửa sổ nào mở, vì những người trong đó, vốn không chịu chia sẻ kiểu sống với bọn bên ngoài chúng tôi, đã có một đồng hồ điều tiết lượng hơi ẩm được phép tiếp cận lớp da của họ. Mới tám giờ, và tôi không muốn tới sớm, nên tôi lái xe lòng vòng các con phố mang tên các đại học miền đông, tuy rằng thị trấn này, nhiều năm xưa, khi đặt tên các thứ này, đã hoạch định số phận cho con cháu các công dân của nó.
(#2) Tôi nghĩ đến chuyện dì Gladys và chú Max của tôi chia nhau một thanh kẹo Mound trong bóng tối ám khói của ngõ hẻm nhà họ, trên những cái ghế băng, mỗi cơn gió mát ngọt ngào đối với họ cứ như lời hứa hẹn về một kiếp sau, và lát sau tôi đã lái xe vào những con đường trải sỏi của công viên nhỏ nơi Brenda đang chơi tennis. Trong hộc đựng găng tay trên xe tôi tấm bản đồ Các đường phố Newark làm như đã biến thành những con dế, vì những con đường tráng nhựa dài hàng dặm không còn tồn tại với tôi nữa, và những âm thanh của đêm ồn hẳn lên khi máu chạy rần rần trên thái dương của tôi.

Tôi đậu xe dưới đưới bóng xanh đen của ba cây sồi, rồi thả bộ về phía có tiếng banh tennis. Tôi nghe một giọng cáu kỉnh kêu lên, “Huề nữa.” Đó là giọng Brenda và tiếng của nàng nghe cứ như đang đổ mồ hôi tùm lum. Tôi bước lạo xạo chậm rãi trên sỏi và lại nghe tiếng Brenda. “Tôi lợi giao,” và ngay khi tôi vòng theo lối đi, nghe tiếng banh veo véo rồi tiếng Brenda, “Ăn rồi!” Cây vợt của nàng bay lộn lộn trên cao và nàng bắt lấy nó rất gọn khi tôi ló mặt tới.

“Chào,” tôi kêu.

“Chào Neil. Một ván nữa nghe,” nàng hô lên. Lời lẽ của Brenda làm như khiến đối thủ phát cáu, đó là một cô tóc nâu xinh xắn, không cao bằng Brenda, cô ta thôi không tìm trái banh đã đánh qua chỗ cô ta nữa và ban cho cả tôi lẫn Brenda một cái nhìn bực bội. Trong giây lát tôi hiểu ra lý do liền: Brenda đang dẫn trước năm bốn, và cái kiểu nàng đắc chí về việc chỉ còn một ván nữa là xong đã khơi dậy một đống bực tức ở đối thủ đủ cho cả hai chúng tôi chia nhau mà vác.

Quả nhiên Brenda thắng ván đấu đó, tuy phải đấu nhiều lượt hơn dự tính. Cô bạn kia, có tên nghe từa tựa như Simp, có vẻ khoái chí khi gỡ được sáu đều, nhưng Brenda, di chuyển, chạy, nhảy rướn lên, không chịu dừng lại, và sau cùng tôi chỉ nhìn thấy di động trong bóng tối là đôi kiếng của nàng, một ánh lấp lánh của nó, cái khoá thắt lưng, đôi vớ, đôi giày thể thao của nàng, và, thỉnh thoảng, thấy được trái banh. Trời càng tối Brenda càng điên cuồng lên lưới, vụ này coi bộ kỳ, vì tôi nhận ra lúc nãy, khi còn sáng, nàng vẫn thủ cuối sân, và ngay cả khi nàng phải chạy lên lưới, sau khi đỡ trả một cú lốp bóng, nàng trông cũng không khoái chí như thế khi tiến tới gần cây vợt của đối thủ như vậy. Niềm đam mê muốn giành được một điểm của nàng coi bộ còn thua xa niềm đam mê muốn giữ nguyên nhan sắc của nàng. Tô e rằng vết đỏ của trái banh tennis in trên má còn làm nàng đau khổ hơn cả việc mất đi mọi điểm số trên đời này. Tuy nhiên, trời tối khiến nàng cứ xông tới, và đánh dữ dội hơn, và sau cùng có vẻ như Simp bị đau cổ chân. Khi xong ván đấu, Simp khước từ đề nghị của tôi muốn cho cô quá giang về và nói rõ bằng cái giọng vay mượn từ một phim cũ xì nào đó của Katherine Hepburn rằng cô tự thu xếp được; rõ ràng tòa biệt thự của cô nàng chẳng xa quá đám cây tầm xuân gần nhất kia. Cô nàng chẳng ưa tôi và tôi cũng chẳng ưa cô ta, tuy tôi biết chắc mình có ưu tư chuyện đó nhiều hơn cô ta chút đỉnh.

“Ai vậy?”

“Laura Simpson Stolowitch.”

“Sao cô không gọi cô ấy là Stolo?” tôi hỏi.

“Simp là tên của nó ở Bennington. Thứ ngốc.”

“Cô cũng học ở đó hả?” tôi hỏi.

Nàng đang vuốt áo thun sát vào da cho khô mồ hôi. “Không. Tôi học ở Boston.”

Tôi không khoái nàng vì câu trả lời này. Mỗi khi có ai hỏi tôi học ở đâu là tôi nói ngay Đại học Rutgers, cơ sở Newark. Có thể tôi nói tên đó ra quá rổn rảng, quá nhanh, quá ngần ngừ, nhưng tôi có nói ra. Trong thoáng chốc Brenda làm tôi nhớ lại mấy thằng cà chớn mũi hếch trường Montclair vào thư viện trong những kỳ nghỉ, và trong khi tôi đóng dấu cho mượn sách, chúng nó đứng sớ rớ kéo kéo những khăn quàng cổ to xù của chúng cho đến khi nó thoòng xuống tận cổ chân, suốt từ đầu tới cuối cứ hàm ý chuyện “Boston” với “New Haven.”

“Đại học Boston hả?” tôi hỏi, mắt ngó mông lên hàng cây.

“Radcliffe.”

Chúng tôi vẫn đứng trên sân, chung quanh đầy những đường vạch trắng. Quanh những bụi cây cuối sân, những con đom đóm đang vẽ những hình số tám trong không gian có mùi gai góc và rồi, khi trời đêm bất ngờ tràn tới, những lá cây sáng lên trong giây lát, cứ như vừa được tưới một cơn mưa. Brenda ra khỏi sân, có tôi theo sau một bước. Bây giờ tôi đã quen với bóng tối, và khi nàng thôi tồn tại như một giọng nói và đã trở thành một hình ảnh rõ rệt, ít nhiều nỗi bực bội của tôi về câu trả lời “Boston” của nàng đã bay đi và tôi cho phép mình ngắm nghía nàng. Tay nàng không ngoéo vào mông nữa, nhưng hình vóc vẫn lộ ra, dù được che kín hay không, dưới cái quần kaki Bermuda bó sát của nàng. Có hai hình tam giác đẫm mồ hôi trên lưng áo thun trắng của nàng, ngay chỗ hai cái cánh sẽ mọc ra nếu nàng có cánh. Nàng còn có, cho trọn bộ, một thắt lưng kẻ ca rô, vớ trắng và đôi giày tennis trắng.

Nàng vừa đi vừa kéo dây kéo cái bao đựng vợt lại.

“Cô có gấp về nhà không?” tôi hỏi.

“Không.”

“Vậy ngồi lại đây đi. Chỗ này dễ chịu.”

“OK.”

Chúng tôi ngồi xuống một bờ cỏ đủ nghiêng để tựa lưng mà không ngả hẳn ra; ở một góc nhìn nào đó thì có vẻ như bọn tôi đang chuẩn bị theo dõi một biến cố nào đó trên trời, như lễ đặt tên cho một vì sao mới chẳng hạn, trăng còn một nửa sắp phình lên tròn đầy. Brenda cứ đóng mở dây kéo bao vợt trong khi nói chuyện; lần đầu tiên trông nàng có vẻ bồn chồn. Nỗi bồn chồn của nàng khiến tôi dịu đi, và một cách kỳ diệu, chúng tôi giờ đã sẵn sàng cho một điều mà tụi tôi có thể có được mà không biết: một cuộc gặp gỡ.

“Cô em Doris của anh trông thế nào?” nàng hỏi.

“Nó da sậm…”

“Cô ấy dân…”

“Không,” tôi nói. “Nó có tàn nhang, tóc đen và cao ráo lắm.”

“Cô ấy học ở đâu?”

“Northampton.”

Nàng không nói gì và tôi không rõ nàng đã hiểu được bao nhiêu phần trăm hàm ý của tôi.

“Chắc tôi không quen cô ấy,” lát sau nàng nói. “Cô ấy là hội viên mới hả?”

“Chắc vậy. Nhà nó mới dọn tới Livingston hai ba năm nay.”

“Ồ.”

Không có ngôi sao mới nào xuất hiện, ít nhất là trong vòng năm phút kế đó.

“Cô có nhớ tôi đã giữ kiếng cho cô không?” tôi hỏi.

“Bây giờ nhớ rồi,” nàng nói. “Anh cũng sống ở Livingston hả?”

“Không. Ở Newark.”

“Nhà tôi cũng sống ở Newark hồi tôi còn nhỏ.” nàng nói.

“Cô muốn về nhà chưa?” đột nhiên tôi thấy bực bội.

“Chưa. Cứ đi loanh quanh đã.”

Brenda đá một viên đá và đi trước tôi một bước.

“Tại sao cô chỉ xông lên lưới sau khi trời tối?” tôi hỏi.

Nàng quay lại phía tôi và mỉm cười. “Anh nhận ra rồi hả? Con Simp thì không.”

“Tại sao vậy?”

“Tôi không thích lên quá sát, trừ khi tôi biết chắc nó sẽ không trả đòn.”

“Sao vậy?”

“Tại cái mũi của tôi.”

“Cái gì?”

“Tôi mới đi chữa mũi.”

“Nó bị gì vậy?”

“Nó nổi mụn.”

“Nhiều lắm hả?”

“Không,” nàng nói, “Tôi đẹp rồi. Bây giờ còn đẹp hơn. Thằng em tôi cũng đi chữa mũi hồi mùa thu.”

“Nó cũng muốn đẹp hơn sao?”

Nàng không trả lời và tiếp tục đi đàng trước tôi.

“Tôi không có ý cười cợt. Tôi chỉ định hỏi tại sao cậu ta làm vậy.”

“Nó muốn làm… trừ khi nó trở thành giáo viên thể dục… nhưng không được đâu,” nàng nói. “Tụi tôi đứa nào cũng giống bố.”

“Ông ấy cũng chữa mũi hả?”

“Sao anh khó chịu thế?”

“Đâu có. Xin lỗi nghe.” Câu hỏi kế đó của tôi xuất phát từ ý muốn tỏ ra quan tâm hơn và nhờ đó lấy lại được vẻ lịch sự; nhưng nó không xảy ra như mong đợi – tôi hỏi thành tiếng hơi lớn. “Tốn hết bao nhiêu vậy?”

Brenda sựng lại một lát nhưng rồi nàng cũng đáp. “Ngàn đô. Nếu anh không muốn thuê một tay bán thịt.”

“Để tôi coi nó đáng đồng tiền bát gạo không?”

Nàng quay lại; nàng đứng cạnh một băng ghế và đặt vợt xuống đó. “Nếu tôi để anh hôn thì anh có dẹp màn ăn nói khó chịu như thế đi không?”

Chúng tôi đã phải tiến hành quá nhiều bước để giữ cho sự tiếp cận không quá lôm côm, nhưng chúng tôi cứ trôi xuôi theo ngẫu hứng và hôn nhau. Tôi cảm thấy bàn tay nàng trên gáy và do đó tôi kéo nàng về phía mình, có lẽ cũng hơi mạnh, và vuốt hai bàn tay dọc bên sườn của nàng và vòng ra sau lưng. Tôi sờ vào chỗ đẫm mồ hôi trên bả vai nàng, và bên dưới lớp da thịt ấy, tôi nhận thấy rõ, một xao động mơ hồ, làm như có gì đó dậy lên rất sâu trong ngực nàng, tuốt trong sâu đến độ có thể cảm thấy nó xuyên qua lớp áo. Nó giống như sự xao động của những cái cánh, những cái cánh nhỏ xíu không lớn hơn bộ ngực nàng. Tầm cỡ nhỏ bé của đôi cánh không làm tôi phiền lòng – chẳng cần đến một con đại bàng mới mang nổi tôi vượt lên năm chục thước thối tha này vốn từng làm những đêm mùa hè ở Short Hills đây mát mẻ hơn nhiều so với ở dưới Newark.



Chú thích:



(1-)Casanova, Giovanni Jacopo (1725-1798) Một tay phóng đãng phiêu lưu nổi tiếng người Ý, lưu lạc khắp châu Âu, vào tù ra khám, vượt ngục, đổi tên, tổ chức cờ bạc, làm gián điệp, chen vào xã hội thượng lưu, đủ cả. Ông ta có làm thơ, viết bộ hồi ký 12 tập rất được chú ý vì nó mô tả chi tiết xã hội thượng lưu thời đó. Tên ông ta ngày nay trở thành đồng nghĩa với “phóng đãng.”



(2-)Các đại học miền đông, lãnh thổ 13 bang đầu tiên của Mỹ, mặc nhiên được coi là đại học xịn, vượt xa đại học ở các tiểu bang khác vốn chỉ được coi như tỉnh lẻ. Ohio, bối cảnh của truyện này, là một bang miền trung tây, cũng mang số phận tỉnh lẻ đó. Neil không ưa kiểu phân biệt này.



Ngày kế tôi lại giữ kiếng cho Brenda, lần này không phải như một tay sai tạm thời mà là khách mời buổi chiều; hoặc có lẽ là cả hai, nhưng đó vẫn là một bước cải thiện. Nàng mặc bộ đồ đen và đi chân không, và giữa những phụ nữ khác, với những gót giày đế bằng và những bộ ngực căng cứng, những chiếc nhẫn to bằng khớp ngón tay, những chiếc mũ rơm, thứ coi y chang mấy đĩa bánh pizza to tướng đã bán cho ai rồi, và tôi nghe một bà da rám sậm vì nắng càm ràm, “từ tay một chàng bợm bảnh nhất khi bọn tôi cặp cảng Barbados,” Brenda giữa đám họ coi đơn sơ một cách dễ nể, cứ như giấc mơ của gã thủy thủ về một trinh nữ Polynesia, dù chỉ là một trinh nữ đeo kính thuốc và có họ là Patimkin. Nàng vỗ nước bì bọp khi trườn tới mép hồ, và ở mép hồ nàng thò tay lên và nắm trúng cổ chân tôi, bấu chặt và ướt mem.

“Xuống nào,” nàng ngước lên nói với tôi, hấp háy mắt. “Mình chơi đi.”

“Còn mắt kiếng,” tôi nói.

“Ôi đập quách nó đi. Ghét nó quá.”

“Sao em không đi chữa mắt?”

“Anh cũng nói vậy nữa.”

“Xin lỗi,” tôi nói. “Để tôi đưa cho Doris.”

Doris, giữa cơn kinh ngạc mùa hè, đã vượt qua được chuyện hoàng tử Andrey chia tay với vợ, và bây giờ ngồi ưu tư, té ra không phải về số phận tội nghiệp lẻ loi của công nương Liza tội nghiệp, mà về lớp da mà cô ta mới nhận thấy là đang tróc ra trên vai mình.

“Bà giữ giùm mắt kiếng cho Brenda nghe?” tôi nói.

“Ưøa.” Cô ta phủi những mẩu da mờ mờ ra khỏi vai. “Mồ tổ nó.”

Tôi đưa cặp mắt kiếng cho cô ta.

“Trời đất,” cô ta nói, “tớ không cầm nó đâu. Cứ để đó. Tớ đâu phải đầy tớ bà ấy.”

“Bà thiệt khó chịu, biết không, Doris?” Ngồi ở đó, cô ta trông hơi giống Laura Simpson Stolowitch, nhân vật đang lang thang đâu đó ở cuối hồ đàng kia, tránh mặt Brenda với tôi vì (tôi thích nghĩ vậy) Brenda đã làm cô ta bêu mặt tối hôm trước; hay có thể (tôi không thích ý nghĩ này) vì sự hiện diện kỳ cục của tôi. Dù thế nào Doris cũng phải lãnh trọn lời rủa xả của tôi cho cả Simp lẫn cô ta.

“Cám ơn,” cô nàng nói, “Sau khi tôi đã mời anh tới chơi bữa nọ.”

“Đó là hôm qua.”

“Còn năm ngoái thì sao?”

“Đúng, mẹ bà cũng nói với bà năm ngoái rồi… hãy mời cậu trai nhà Esther như thế khi nó viết thư cho bố mẹ nó rằng họ sẽ không phàn nàn là mình không chăm sóc nó. Mùa hè nào tôi cũng có lúc của mình.”

“Lẽ ra cậu phải đi với họ. Đâu phải lỗi tụi tôi. Cậu đâu phải người tụi tôi phải coi sóc,” và khi cô ta nói thế, tôi chỉ có thể hiểu rằng đó là điều cô ta nghe được ở nhà, hoặc nhận được trong một lá thư trong đợt thư vào thứ Hai nào đó, sau khi cô ta đã trở về Northampton từ Stowe, hoặc Dartmouth, hoặc có lẽ từ đợt nghỉ cuối tuần nọ khi cô ta tắm vòi sen với thằng bạn trai ở Lowell House.

“Bảo bố bà đừng có lo. Chú Aaron, ông bạn già. Tôi tự lo cho mình được,” và tôi chạy trở lại hồ, phóng xuống một phát, và trồi lên như một con cá heo bên cạnh Brenda, đôi chân tôi trườn đè lên chân nàng.

“Doris sao rồi?” nàng hỏi.

“Đang tróc da,” tôi nói. “Bà ấy sắp phải đi chữa da.”

“Dẹp màn đó đi,” nàng nói, và chúi xuống dưới cho đến khi tôi cảm thấy nàng nắm lấy gan bàn chân tôi. Tôi co chân lại rồi chúi xuống theo, và rồi, ở đáy hồ, chỉ độ hai tấc cách những đường sọc đen chập chờn dùng để chia hồ thành những làn bơi đua, tụi tôi hôn nhau giữa đám bọt khí thoát ra. Nàng mỉm cười ở đó, với tôi, tuốt dưới đáy hồ bơi câu lạc bộ Green Lane Country. Bên trên chúng tôi, những đôi chân chờn vờn trong nước và một đôi vây xanh lướt qua: con em họ Doris có lột đến hết da thì tôi cũng mặc, bà dì Gladys dọn ăn hai mươi lần mỗi tối, cha mẹ tôi cứ nướng tiêu chứng hen suyễn của họ ở cái lò lửa Arizona, những kẻ trốn lánh không xu dính túi ấy – tôi chẳng quan tâm bất cứ cái gì ngoại trừ Brenda. Tôi vươn tới kéo nàng lại gần ngay khi nàng định trồi lên; tay tôi móc trúng ngực áo nàng và nó tuột ra. Bộ ngực nàng trôi lờ lững trước mặt tôi như hai con cá mũi hồng và nàng để tôi chạm tay vào đó. Rồi, trong giây lát, ánh mặt trời hôn lên cả hai đứa tôi, và chúng tôi trồi khỏi mặt nước, quá hài lòng về nhau đến không mỉm cười được. Brenda lắc mái tóc bắn nước tung toé qua tôi và với những giọt chạm vào người, tôi cảm thấy như nàng đã có một hứa hẹn với tôi về mùa hè, và, tôi hi vọng, còn hơn thế nữa.

“Em cần mắt kiếng chưa?”

“Anh gần xịt em dư sức thấy,” nàng nói. Chúng tôi ngồi dưới một cây dù lớn màu xanh, kề bên nhau trên hai chiếc ghế dài, áo tắm và da thịt chúng tôi cứ kêu rin rít trên mặt nhựa; tôi quay đầu lại để nhìn Brenda và ngửi mùi nắng rám dễ chịu trên vai mình. Tôi lại quay nhìn lên, giống như nàng, và khi chúng tôi trò chuyện, trời bắt đầu sáng và nóng hơn, những màu sắc cứ xé ngang dọc sau mi mắt khép của tôi.

“Mọi chuyện này nhanh quá,” nàng nói.

“Chẳng có gì xảy ra cả,” tôi nói nhẹ nhàng.

“Không. Em cũng nghĩ là không. Nhưng hơi có cảm giác điều gì đó đã xảy ra.”

“Trong mười tám giờ qua?”

“Phải. Em thấy… bị theo đuổi,” nàng nói sau một lát im lặng.

“Em rủ anh mà, Brenda.”

“Sao lúc nào anh cũng có cái giọng khó ưa với em vậy?”

“Anh có giọng khó ưa sao? Anh không hề cố ý. Thiệt đó.”

“Anh có mà! Em rủ anh mà, Brenda. Vậy thì sao?” nàng nói. “Dù gì em cũng không cố tình như thế.”

“Anh xin lỗi.”

“Dẹp màn phân bua đi. Anh luôn tự động như thế, dù anh không thực lòng muốn thế.”

“Bây giờ em đang khó chịu với anh đấy,” tôi nói.

“Không. Chỉ nêu sự kiện thôi. Thôi đừng tranh cãi nữa. Em thích anh.” Nàng quay đầu đi và trông cứ như nàng mải ngưng một giây để ngửi cái mùi mùa hè trên da thịt của mình. “Em thích cái tướng của anh.” Nàng tránh không làm tôi rầu với cái giọng tỉnh bơ của nàng.

“Sao vậy?” tôi hỏi.

“Anh xoay đâu ra được đôi vai đẹp thế? Anh có chơi môn gì không?”

“Không,” tôi nói. “Anh cứ lớn lên là tự nhiên như thế thôi.”

“Em thích thân người anh. Trông đẹp lắm.”

“Nghe sướng quá,” tôi nói.

“Anh có thích thân người em không?”

“Không,” tôi nói.

“Vậy nó không dành cho anh đâu,” nàng nói.

Tôi dùng mu bàn tay vuốt tóc nàng sát vào vành tai và rồi chúng tôi im lăng một lát.

“Brenda,” tôi nói, “em không hề hỏi gì về anh cả.”

“Anh thấy làm sao? Anh có muốn em hỏi anh thấy làm sao không?”

“Muốn,” tôi nói, chấp nhận trò ma mãnh nàng bày ra cho tôi tuy có thể không vì cùng lý do mà nàng đã bày nó ra.

“Anh thấy làm sao?”

“Anh muốn bơi.”

“Được,” nàng nói.

Chúng tôi ở dưới nước suốt buổi chiều còn lại. Có tám đường vạch sơn suốt chiều dài của đáy hồ và đến cuối ngày tôi nghĩ hai đứa tôi đã trụ ở mỗi đường bơi được một lúc, đủ gần sát những vạch đen để có thể thò tay ra chạm vào chúng. Lâu lâu chúng tôi lại trở lên ghế ngồi và ngâm nga những đoạn thơ tự do êm ái, bồn chồn, dí dỏm, ngập ngừng về chuyện chúng tôi bắt đầu cảm nghĩ gì về nhau. Thực tình thì chúng tôi chẳng hề có những cảm giác mà chúng tôi nghĩ rằng mình có cho đến khi nói được chúng ra thành lời – ít nhất là tôi thấy mình như thế; nói chúng ra thành lời tức là sáng tạo và có được chúng. Chúng tôi quậy cảm giác lạ lẫm và mới quen của mình thành một thứ bọt từa tựa như tình yêu, và chúng tôi không dám đùa quá lâu với nó, nói quá nhiều về nó, e rằng nó sẽ xẹp xuống và tan đi. Nên chúng tôi hết trên ghế lại dưới nước, hết nói chuyện lại im lặng, và nếu xét theo cảm giác bồn chồn khôn nguôi của tôi trước Brenda, và những bức tường cái tôi cao vòi vọi dựng lên, cùng trụ ốp các thứ, chắn giữa nàng và nhận thức của nàng về chính mình, thì chúng tôi xoay xở cũng tạm.

Tới khoảng bốn giờ, từ đáy hồ, Brenda đột nhiên rời xa tôi và trồi lên mặt nước. Tôi trồi lên theo.

“Có chuyện gì vậy?” tôi hỏi.

Đầu tiên nàng vuốt tóc khỏi trán. Rồi nàng chỉ một tay xuống cuối hồ. “Thằng anh của em,” nàng nói, ho văng chút nước trong người ra.

Và đột nhiên, giống như một Proteus
(#1) húi cua từ dưới biển hiện lên, Ron Patimkin từ đáy sâu ngay dưới chỗ chúng tôi vừa bơi trồi lên và thù lù một đống trước mặt chúng tôi.

“Ê, Bren,” anh ta nói, và quạt bàn tay trên mặt nước khiến cả một cơn bão nhỏ hắt vào mặt tôi với Brenda.

“Anh khoái chí chuyện gì vậy?” nàng nói.

“Đội Yankees gác hai cú.”

“Vậy là mình lại ăn tối với Mickey Mantle à?” nàng nói. “Mỗi khi đội Yankees thắng,” nàng bảo tôi, bước đi dễ dàng có vẻ như nàng vừa biến chất clor thành đá hoa dưới chân mình, “chúng tôi lại đặt thêm một chỗ cho Mickey Mantle.”

“Em muốn đua không?” Ron hỏi.

“Không, Ronald. Đua một mình đi.”

Chẳng ai nói gì tới tôi. Tôi cố lặng lẽ bỏ đi, như một kẻ thứ ba, không được giới thiệu, sẽ bước sang một bên và chẳng nói gì cả, chờ đợi những điều vui thú. Tuy nhiên, tôi đã mệt vì thể thao cả buổi chiều, và cầu mong hai chị em quái qủi kia đừng tào lao tán dóc thêm nữa. May thay lúc đó Brenda lại giới thiệu tôi. “Ronald, đây là Neil Klugman. Đây là anh tôi, Ronald Patimkin.”

Từ tất cả những thứ có dưới ba thước nước, Ron thò tay ra bắt. Tôi bắt lại, không đầy ấn tượng như anh ta có vẻ trông đợi; cằm tôi chìm xuống nước mấy phân và lập tức tôi thấy mình mệt rũ.

“Muốn đua không?” Ron vui vẻ hỏi.

“Tới đi, Neil, đua với ảnh đi. Em muốn gọi điện về nhà báo là anh sẽ ghé ăn tối.”

“Anh hả? Vậy anh cũng phải gọi cho bà dì. Em đâu có nói trước. Áo quần của anh…”

“Nhà em ăn tối cởi mở lắm.”

“Cái gì?” Ronald hỏi.

“Bơi đi, cha,” Brenda nói với anh ta và tôi thấy ngứa chút đỉnh khi nàng hôn vào mặt anh chàng.

Tôi thoái thác vụ bơi đua, nói rằng phải đi gọi điện, và khi đến được mép gạch xanh của hồ bơi, tôi nhìn lại thấy Ron đang quạt những sải tay mạnh mẽ dọc hồ. Anh ta khiến mình có cảm giác rằng sau khi bơi sáu bảy lần chiều dài hồ thì anh ta sẽ được quyền uống nước trong hồ đó; tôi tưởng tượng anh ta, giống chú Max của tôi, có chứng khát nước khủng khiếp và một bàng quang to tướng.

Dì Gladys có vẻ không nhẹ nhõm hơn chút nào khi tôi bảo tối nay dì chỉ phải làm ba suất ăn thôi. Qua điện thoại dì ấy chỉ nói, “Ly kỳ.”

Chúng tôi không ăn trong bếp, mà sáu người – Brenda, tôi, Ron, ông bà Patimkin và Julie, em gái Brenda- ngồi quanh bàn trong phòng ăn, trong khi cô giúp việc Carlota, một chị da đen có nét của bộ tộc Navaho với những lỗ xỏ trên tai nhưng không đeo gì cả, dọn ăn cho chúng tôi. Tôi được xếp ngồi cạnh Brenda, nàng ăn mặc theo kiểu gọi là cởi mở của nàng: quần kaki, thứ bó, áo thun trắng, giày tennis với vớ trắng. Đối diện tôi là Julie, mười tuổi, mặt tròn, sáng sủa, cô bé mà trước giờ ăn tối, trong khi những cô bé khác còn ở ngoài đường chơi với nhau hay với bọn con trai, thì cô ở sân sau chơi đánh golf với bố. Ông Patimkin làm tôi nhớ đến bố tôi, ngoại trừ chuyện ông không bọc mỗi âm tiết trong hơi gió nặng nề. Ông ta cao, khoẻ mạnh, phi văn phạm và ăn mạnh. Khi ông tấn công món rau trộn, sau khi đã xịt ngập vào đó thứ dầu dấm Pháp đóng chai – những mạch máu dưới làn da cánh tay của ông phồng lên. Ông ăn ba suất rau trộn, Ron ăn bốn, Brenda với Julie ăn hai, chỉ có bà Patimkin và tôi mỗi người dùng một. Tôi không thích bà Patimkin, tuy bà là người xinh đẹp nhất trong bàn. Bà lịch sự với tôi một cách quá tai hại, và với đôi mắt tím, mái tóc đen, và vóc người đẫy đà, quyến rũ, bà tạo cho tôi cảm giác của một nhan sắc bị tù hãm, một công nương hoang dã, kẻ đã bị thuần hóa và biến thành gia nhân cho con gái của một ông vua – đó là Brenda.

Bên ngoài, qua khung cửa sổ lớn, tôi có thể thấy bãi cỏ sau nhà với hai cây sồi sinh đôi. Tôi gọi là sồi, tuy qua tưởng tượng, người ta có thể bảo đó là cây dụng cụ thể thao. Dưới những cành nhánh, như trái cây vừa rụng, là hai cây gậy đánh golf, một trái banh golf, một ống banh tennis, một cây gậy bóng chày, quả bóng rổ, một găng tay bóng chày, và một cái trông như cán roi quất ngựa. Xa hơn, ở chỗ những bụi cây bao quanh sở đất của nhà Patimkin và ngay trước một sân bóng rổ nhỏ, có một cái chăn vuông màu đỏ, với một chữ O trắng đính ở giữa, trông cứ như đang bốc cháy giữa thảm cỏ xanh. Ngoài đó chắc đang có gió nhẹ, vì lưới bóng rổ giao động; trong này chúng tôi ăn trong bầu khí mát mẻ nhờ máy điều hòa Westinghouse. Cảm giác thật dễ chịu, có điều là ăn uống giữa những người Brobdingnag,
(#2) tôi có cảm tưởng trong một lúc lâu là đôi vai tôi đã bị cắt đi cả tấc, chiếu cao của tôi bị giảm mất bảy phân, và thêm vào đó, có ai đã gỡ mất xương sườn của tôi và lồng ngực tôi đã bẽn lẽn nép sát vào lưng.

Chẳng có trò chuyện gì nhiều trong bữa ăn; việc ăn thì nặng nề, có phương pháp và nghiêm trọng, và sẽ là công bằng khi ghi lại những gì được nói ra một mạch hơn là chỉ rõ những câu bị thức ăn nhận chìm, những lời lẽ lọc ọc trong miệng đầy thức ăn, cấu trúc câu bị cắt đoạn và bỏ qua khi trút thức ăn vào dĩa, làm đổ tháo, và nhai nuốt ừng ực.

NÓI VỚI RON: Harriet gọi lúc nào?

RON: Năm giờ.

JULIE: Lúc đó sáu giờ rồi.

RON: Giờ ở chỗ họ đó.

JULIE: Tại sao giờ ở Milwaukee lại sớm hơn? Nếu như anh cứ đi máy bay từ đây tới đó suốt ngày. Anh sẽ không bao giờ già.

BRENDA: Đúng đó, cưng.

BÀ P.: Mày giải thích bậy cho nó làm gì? Đó là lý do nó phải đi học đó hả?

BRENDA: Con đâu biết tại sao nó đi học.

ÔNG P. (giọng thương yêu): Cô sinh viên.

RON: Carlota đâu rồi? Carlota!

BÀ P: Carlota, dọn thêm cho Ronald.

CARLOTA (gọi lên): Thêm cái gì?

RON: Mọi thứ.

ÔNG P: Tôi nữa.

BÀ P.: Tụi nó chắc phải lăn ông bằng xích quá.

ÔNG P. (kéo áo lên và vỗ vào cái bụng ú nụ ngăm đen của mình): Bà nói cái gì đó? Nhìn thấy chưa?

RON (tuột áo thun ra): Nhìn nè mẹ.

BRENDA (nói với tôi): Anh có muốn phơi bụng ra không?

TÔI (lại là chú bé trong dàn đồng ca): Không.

BÀ P.: Được đó, Neil.

TÔI: Dạ, cám ơn.

CARLOTA (nói qua vai tôi, như hồn ma không gọi mà tới): Anh muốn thêm không?

TÔI: Không.

ÔNG P.: Cậu ấy ăn như chim.

JULIE: Có loài chim ăn dữ lắm.

BRENDA: Chim gì?

BÀ P.: Không nói chuyện loài vật ở bàn ăn. Brenda, sao mày lại xúi nó?

RON: Carlota đâu rồi, tối nay con phải thi đấu.

ÔNG P.: Nhớ bó cổ tay lại.

BÀ P.: Cậu sống ở đâu, Bill?

BRENDA: Neil chứ.

BÀ P.: Không phải tao nói Neil sao?

JULIE: Mẹ nói ‘Cậu sống ở đâu, Bill?’ mà.

BÀ P.: Chắc là tao mải nghĩ cái gì khác.

RON: Con ghét bó lắm. Làm quái gì chơi được khi bị bó cổ tay?

JULIE: Đừng văng tục.

BÀ P.: Phải đó.

ÔNG P.: Bây giờ Mantle đánh gì?

JULIE: Ba hăm tám.

RON: Ba hăm lăm.

JULIE: Hăm tám.

RON: Hăm lăm, dẹp đi! Nó đánh trúng ba trên bốn quả trong ván hai.

JULIE: Bốn trên bốn.

RON: Trái đó bị lỗi, Minoso lẽ ra ăn quả đó.

JULIE: Em không tin.

BRENDA (với tôi): Thấy chưa?

BÀ P.: Thấy gì?

BRENDA: Con đang nói chuyện với Bill.

JULIE: Neil chứ.

ÔNG P.: Im mồm lo ăn đi.

BÀ P.: Nói ít đi một chút, tiểu qúi nương.

JULIE: Con có nói gì đâu.

BRENDA: Bả đang nói chuyện với chị, cưng.

ÔNG P.: Cái vụ bả là sao. Mày kêu mẹ mày như thế à? Tráng miệng cái gì đây?

Điện thoại reo, và tuy chúng tôi còn chờ món tráng miệng, nhưng bữa ăn có vẻ đã chính thức kết thúc, vì Ron đã đứng dậy về phòng, Julie gào lên “Harriet!” và ông Patimkin chặn một cú ợ hơi không thành công lắm, tuy rằng thất bại ấy còn hơn cả một nỗ lực khiến tôi có thiện cảm với ông hơn. Bà Patimkin đang chỉ đạo Carlota đừng để lộn đồ bạc ăn sữa với đồ bạc ăn thịt nữa, còn Carlota nhai một trái đào trong khi lắng nghe bà ta; dưới gầm bàn tôi cảm thấy mấy ngón tay của Brenda đang khều bắp chân tôi. Tôi ứ tới cổ.

* * *

Chúng tôi ngồi dưới bóng cây sồi to nhất trong khi ngoài sân bóng rổ ông Patimkin chơi với Julie. Trên lối chạy xe Ron đang nổ máy chiếc Volkswagen. “Ai làm ơn chuyển cái Chrysler khỏi đuôi xe tôi giùm được không?” anh ta kêu lên bực bội. “Chắc tôi trễ mất.”

“Xin lỗi,” Brenda nói và đứng dậy.

“Chắc xe anh đậu sau cái Chrysler,” tôi nói.

“Vậy thì đi,” nàng bảo.

Chúng tôi de xe ra để Ron có thể phóng tốc hành tới trận đấu của anh ta. Rồi chúng tôi cho xe vào chỗ cũ và trở lại xem ông Patimkin với Julie chơi.

“Anh thích cô bé ấy,” tôi nói.

“Em cũng vậy,” nàng nói. “Em tự hỏi không biết sau này nó ra sao.”

“Thì giống em thôi,” tôi nói.

“Em không chắc,” nàng nói. “Có thể còn ngon hơn.” Rồi nàng thêm, “hoặc có thể tệ hơn. Ai mà biết được? Bố em cưng nó lắm, nhưng em sẽ để nó sống thêm với mẹ ba năm nữa… Bill,” nàng nói một cách lơ đãng.

“Anh chẳng lo điều đó,” tôi nói. “Mẹ em rất đẹp.”

“Em thậm chí chưa từng nghĩ bà là mẹ mình. Bà ghét em. Mấy đứa con gái khác, khi chuẩn bị đồ đạc trở lại trường vào tháng Chín, thì ít nhất cũng được mẹ giúp. Em thì không. Bà ấy thế nào cũng bận chuốt viết chì cho Julie khi em phải tha cái valy lòng vòng trên lầu. Và rõ ràng đó là lý do. Thực tế đó là một trường hợp điển cứu.”

“Tại sao vậy?”

“Bà ấy ghen tị. Chuyện đó chán đến nỗi em mắc cở khi phải nói ra. Anh có biết mẹ em có cú rờ-ve tuyệt nhất New Jersey không? Thực tình bà ấy là tay tennis mạnh nhất tiểu bang, cả nam lẫn nữ. Phải chi anh thấy những bức ảnh của mẹ em thời con gái. Trông bà rất khoẻ mạnh. Nhưng không núng nính hay gì cả. Bà ấy nhạy cảm, thực đó. Em yêu bà ấy trong những bức ảnh. Có khi em nói với mẹ những bức ảnh đó đẹp làm sao. Thậm chí em còn xin mẹ cho phóng mấy tấm lên để em mang theo tới trường. ‘Tiền mình phải dùng vào nhiều việc khác nữa, cô nương, thay vì tiêu vào hình với ảnh.’ Tiền! Bố em dính chết ở đây với nó, nhưng mỗi khi em mua một cái áo khoác là thế nào cũng nghe mẹ cằn nhằn. ‘Mày không cần phải tới tiệm Bonwit, tiểu thư ạ, tiệm Ohrbach có thứ vải chắc nhất có trên đời này.’ Ai cần thứ vải chắc! Sau cùng em cũng có được thứ em muốn, nhưng phải đợi đến khi bà có dịp mỉa mai em kìa. Với mẹ tiền bạc là chuyện phung phí. Thậm chí mẹ chẳng biết cách hưởng thụ nó nữa. Mẹ cứ nghĩ nhà em còn sống ở Newark.”

“Nhưng em có được thứ em muốn mà,” tôi nói.

“Phải. Nhờ bố đấy,” nàng chỉ ông Patimkin lúc đó vừa ném lọt rổ cú thứ ba liên tiếp trước vẻ rầu rĩ ra mặt của Julie, cô bé dậm chân thình thịch xuống đất làm bốc lên cả một đám bụi nhỏ quanh đôi chân rất xinh xắn của nó.

“Bố không chì lắm nhưng ít nhất bố cũng dịu dàng. Bố không cư xử với anh trai em theo kiểu mẹ cư xử với em. Cám ơn Chúa vì chuyện đó. Ôi, em mệt với chuyện cứ phải nói về họ. Ngay từ năm thứ nhất em đã nghĩ mỗi cuộc nói chuyện của em rút cuộc cũng là nói về bố với mẹ và vụ đó chán làm sao. Điều đó phổ biến lắm. Rắc rối duy nhất là họ không hề biết chuyện đó.”

Nhìn cái kiểu Julie với ông Patimkin đang cười ngoài sân thì coi bộ không có vấn đề nào có vẻ kém phổ biến hơn; nhưng, dĩ nhiên, nó phổ biến đối với Brenda, thậm chí còn có tính toàn vũ trụ nữa kìa – nó khiến bất kỳ thứ áo mỏng nào cũng thành trận chiến với bà mẹ, và cuộc đời nàng, tôi chắc chắn, bao gồm phần lớn là chuyện chiếm lấy thị trường của những thứ vải mềm mại với da thịt, đến độ có tầm cỡ của Cuộc chiến Trăm Năm
(#3)

Tôi không định có những ý nghĩ phản thùng như thế, để bị xếp cùng hàng với bà Patimkin trong khi đang ngồi với Brenda, nhưng tôi không thể rũ bỏ khỏi bộ não voi của tôi cái kiểu ăn nói Mẹ- cứ- nghĩ- nhà- em- còn- sống- ở- Newark. Tuy nhiên, tôi không nói ra, e rằng cái giọng của tôi sẽ làm tan nát sự gần gũi và thoải mái sau bữa tối của chúng tôi. Thật là đơn giản khi gần gũi với làn nước vỗ về và bảo vệ mọi lỗ chân lông của mình, rồi sau đó, có nắng sưởi khô và ru ngủ các giác quan, và bây giờ, trong bóng râm và ngoài trời, mát và áo quần tươm tất trên sở đất nhà nàng, tôi không muốn nói một lời có thể đập bỏ lớp che phủ và làm lộ ra cái cảm giác dễ mích lòng mà lúc nào tôi cũng có đối với nàng, và đó là mặt dưới của tình yêu. Nhưng nó sẽ không chịu ở dưới mãi đâu – nhưng tôi cứ lao tới trước.

Đột nhiên, Julie xuất hiện trước mặt. “Muốn chơi hông?” cô bé hỏi tôi. “Bố mệt rồi.”

“Thôi nào,” ông Patimkin gọi. “Bố thôi rồi.”

Tôi ngần ngừ – tôi đã không rớ tới quả bóng rổ từ hồi rời trung học – nhưng Julie kéo tay tôi, còn Brenda nói, “Chơi đi.”

Ông Patimkin tung trái bóng về phía tôi khi tôi không nhìn và nó tưng trúng ngực tôi, để lại một dấu bụi tròn, như bóng của một vầng trăng, trên lớp áo. Tôi bật cười ngu ngơ.

“Anh không chụp được hả?” Julie hỏi.

Giống cô chị, Julie coi bộ cũng có khiếu nêu những câu hỏi thực tiễn, nghe rất chọc ngứa.

“Ờ.”

“Tới lượt anh đó,” cô bé nói. “Bố thua băm chín bốn bảy. Hai trăm là thắng.”

Trong giây lát, khi tôi đặt đầu ngón chân lên vết mòn mà qua nhiều năm đã được coi là đường biên lỗi, tôi lại thấy một trong những giấc mơ thấp thoáng giữa ban ngày thỉnh thoảng vẫn ám lấy tôi và, như nhiều bạn bè cho biết, thường phủ một lớp màng trong mắt tôi: mặt trời đã lặn, những con dế đã đến rồi đi, lá cây đã sẫm đen, mà Julie với tôi vẫn đứng lẻ loi trong sân cỏ, ném banh vào rổ; “Năm trăm thắng,” nó kêu lên, và khi nó đạt điểm đó trước tôi nó lại kêu, “Bây giờ anh phải đạt điểm đó,” và tôi làm như thế, và buổi tối cứ kéo dài, rồi nó kêu, “Tám trăm thắng,” và chúng tôi cứ chơi rồi tới lúc một ngàn mốt thắng và chúng tôi chơi tiếp và trời không bao giờ sáng.

“Ném đi,” ông Patimkin nói. “Anh thế cho tôi đó.”

Điều đó khiến tôi hoang mang, nhưng tôi cũng làm một cú ném tại chỗ và, dĩ nhiên, hụt rổ. Nhờ ơn thượng đế và cơn gió nhẹ, tôi cũng ném được một cú dội bảng vào rổ.

“Anh được bốn mốt. Đến em nghe,” Julie nói.

Ông Patimkin ngồi trên cỏ ở cuối sân. Ông đã cởi áo sơ mi và chỉ còn áo lót, và với lớp râu mọc lại trong ngày, trông ông giống một tay làm vườn chuyên ngiệp. Cái mũi trước đây của Brenda rất hợp với ông. Nó có một cái mụn trên đó, ở phía trên sống mũi trông như có một viên kim cương tám cạnh đã được cấy vào dưới da. Tôi biết ông Patimkin sẽ chẳng bao giờ nghĩ tới chuyện cắt bỏ cái cục đó, nhưng tuy vậy, với lòng vui sướng và tự hào, rõ ràng là thế, ông đã chi tiền để cắt bỏ cục kim cương đó cho Brenda và vất vào bồn cầu nào đó trong Bệnh viện Đại lộ Năm.

Julie ném hụt cú ném tại chỗ, và tôi cho phép mình một cảm giác hơi hơi khoái chí.

“Cho bóng xoáy một chút,” ông Patimkin bảo nó.

“Cho em ném lại nghe?” Julie hỏi tôi.

“Ừ.” Với những chỉ đạo của ông bố đứng ở đường biên và máu lịch sự miễn cưỡng của tôi trên sân, xem ra chẳng có chút cơ hội nào cho tôi san bằng tỷ số. Và đột nhiên, tôi muốn thắng, muốn cho cô bé Julie thua tơi tả. Brenda ngả người tựa vào một khuỷu tay, dưới bóng cây, nhai một chiếc lá, đang theo dõi. Trong nhà trên kia, qua cửa sổ nhà bếp, tôi có thể thấy màn cửa đã được kéo dạt ra – lúc này mặt trời đã xuống quá thấp không còn rọi sáng những dụng cụ điện trong đó nữa- và bà Patimkin đang chăm chú theo dõi trận đấu. Và rồi Carlota xuất hiện ở bậc thềm cửa sau, nhai một trái đào và tay kia cầm một giỏ rác. Cô ta cũng dừng lại xem cuộc chơi.

Lại đến lượt tôi. Tôi ném hụt một cú ném tại chỗ và bật cười quay sang Julie rồi nói, “Cho anh ném lại nghe?”

“Không!”

Thế là tôi biết trận đấu này phải chơi như thế nào. Qua nhiều năm, ông Patimkin đã dạy cô con gái rằng những cú ném tự do thì tùy nghi xin ném lại được, ông chấp nhận cho. Tuy nhiên, với những cặp mắt xa lạ của Short Hills này đang chăm chú nhìn tôi, từ những bà nội tướng, những gia nhân, và người cung cấp, tôi ít nhiều cảm thấy mình không làm được. Nhưng tôi phải làm và đã làm được.

“Cám ơn nhiều, anh Neil,” Julie nói khi kết thúc trận đấu – ở điểm 100 – và những con dế đã tới.

“Đâu có chi.”

Dưới hàng cây, Brenda mỉm cười. “Anh để cho nó thắng phải không?”

“Anh nghĩ thế,” tôi nói. “nhưng không dám chắc.”

Có cái gì trong giọng nói của tôi khiến Brenda nói tiếp, một cách vỗ về, “Ngay đến Ron cũng để cho nó thắng.”

“Thế là quá đẹp cho Julie rồi,” tôi nói.

Chú thích:



(1-)Proteus: Tiểu thần biển dưới trướng Thần biển Poseidon, có phép biến hình theo ý muốn.

(2-)Brobdingnag: xứ của những người khổng lồ có tầm cao khoảng 20 thước trong Gulliver Phiêu Lưu Ký.

(3-)Cuộc chiến trăm năm: một cuộc chiến giữa Pháp và Anh từ 1337 đến 1453 khiến Anh mất hết nhượng địa ở Pháp, trừ Calais.



Sáng hôm sau tôi tìm được một chỗ đậu xe trên đường Washington ngay đối diện thư viện. Do tới sớm hai mươi phút nên tôi quyết định thả bộ vào công viên hơn là băng qua đường vào làm việc; nhất là tôi không muốn nhập bọn với lũ đồng nghiệp, những đứa tôi biết chắc đang ngồi nhâm nhi cà phê ở phòng đóng bìa sách, trên người vẫn còn bốc mùi món cam vắt mà chúng uống cuối tuần đó ở công viên Asbury. Tôi ngồi trên một băng ghế và nhìn ra đường Broad và dòng xe cộ buổi sáng. Những chuyến xe lửa từ Lackawanna đang rầm rì chạy qua cách đó vài khu phố về phía bắc và tôi có thể nghe âm thanh của chúng, tôi thầm nghĩ – những toa xe màu xanh lá cây tỏa nắng, cũ mà sạch, với những cửa sổ mở suốt tuyến đường. Nhiều buổi sáng có giờ rảnh trước khi làm việc, tôi thường đi bộ xuống tận đường tàu nhìn những khung cửa mở chạy qua, trên bậu cửa là những khủyu tay trong y phục mùa hè và mép của những cái cặp, tài sản của những doanh nhân đi vào thành phố từ Maplewood, Oranges, và những ngoại ô xa hơn nữa.

Khu công viên, giáp đường Washington ở phía tây và đường Broad ở phía đông, thì vắng người, nhiều bóng râm và còn mùi cây cối, trời đêm, và tàn tích của bọn chó; và cũng thoang thoảng mùi ẩm ướt nữa, chứng tỏ cái xe tưới nước tổ bố vừa đi qua đây, chạy vội vã và làm ướt đầm những con đường chính. Trên đường Washington, tuốt phía sau tôi, là Viện bảo tàng Newark – tôi có thể thấy nó mà không cần nhìn: hai cổ bình phương Đông ở phía trước cứ như ống nhổ cho một tiểu vương, và kế đó là khu nhà phụ nhỏ mà chúng tôi đã đi qua bằng những cỗ xe bus riêng hồi còn học tiểu học. Khu nhà phụ xây bằng gạch, cũ kỹ và đầy dây leo, và luôn gợi tôi nghĩ về mối liên quan của New Jersey với buổi đầu của quốc gia này, với George Washington, người đã huấn luyện đội quân ô hợp của mình – một tấm bảng đồng nhỏ cho lũ nhóc học sinh chúng tôi biết như thế- ngay trong cái công viên tôi đang ngồi đây. Ở đầu đàng kia công viên, xa hơn cả Viện bảo tàng, là tòa nhà ngân hàng nơi tôi đã học đại học. Mấy năm trước nó được tu sửa thành một cơ sở của Đại học Rutgers; cụ thể là, ở nơi từng là phòng đợi chủ tịch ngân hàng tôi đã học giáo trình Những Vấn Đề Đạo Đức Hiện Đại. Tuy bây giờ là mùa hè, và tôi đã rời khỏi đại học ba năm rồi, tôi vẫn thấy dễ dàng nhớ ra những sinh viên khác, những bạn bè từng làm ca đêm ở hãng Bamberger và Kresge và đã dùng hoa hồng kiếm được nhờ đi gạ bán những đôi giày nữ đã hết mốt để đóng lệ phí thí nghiệm. Rồi tôi lại nhìn ra đường Broad. Nằm chen giữa tiệm sách có mặt kính đầy bụi và một tiệm bán thức ăn trưa loàng xoàng là cổng vào một nhà hát nghệ thuật nhỏ – bao nhiêu năm đã qua rồi kể từ thời tôi còn đứng ở lối cổng ấy, nói láo về năm sinh của mình để được mua vé vào xem Hedy Lamarr bơi trần truồng trong phim Ectasy; và rồi, sau khi đã nhét cho tay soát vé thêm hăm nhăm xu nữa, đã cảm thấy thất vọng làm sao trước nét đẹp đơn sơ của dân Slave ở cô ta… Ngồi đó trong công viên, tôi cảm nhận một hiểu biết sâu xa về Newark, một sự gắn bó đã ăn sâu đến độ nó chẳng thể làm gì khác hơn là phát triển thành tình cảm.

Đột nhiên đã tới chín giờ và mọi thứ vội vàng cả lên. Các cô gái gót cao ngả nghiêng xoay theo khung cửa quay của tòa nhà công ty điện thoại bên kia đường, xe cộ bấm còi cáu kỉnh, cảnh sát quát tháo và xua xe cộ chạy hướng này hướng kia. Ở nhà thờ St. Vincent đàng kia những khung cửa to tướng sẫm màu mở ra và những đôi mắt mệt mỏi vì dậy sớm dự lễ giờ hấp háy vì ánh sáng. Rồi những tín đồ bước khỏi các bậc thềm nhà thờ và phóng theo các ngả đường để đến với những bàn giấy, tủ hồ sơ, thư ký, cấp trên, và – nếu thượng đế thấy thuận tiện có thể cất bớt một ít khó nhọc cho họ- đến với cái dễ chịu của máy điều hòa không khí gắn bên cửa sổ của họ. Tôi đứng dậy và băng qua đường sang thư viện, bụng tự hỏi không biết Brenda đã dậy chưa.

Những con sư tử xi măng đứng gác không thuyết phục lắm trên bậc thềm thư viện, chịu đựng sự phối hợp giữa chứng phù chân voi với chứng xơ cứng động mạch và tôi sẵn sàng để ý tới chúng càng ít càng tốt trong suốt tám tháng qua nếu không có một chú bé da màu đứng trước một trong những con sư tử đó. Con sư tử đã gãy hết những ngón chân vào mùa hè trước do một lũ thiếu niên phá phách, và bây giờ kẻ phá hoại mới đang đứng trước nó, khum khum đầu gối và đang gầm gừ. Nó sẽ gầm gừ, trầm và dài, ngồi phịch xuống, chờ đợi, rồi gầm gừ tiếp. Rồi nó sẽ đứng thẳng dậy, và, lắc đầu, nó sẽ nói với con sư tử, “Ôi trời, mày chết nhát…” Rồi, nó lại gầm gừ.

Một ngày bắt đầu như mọi ngày. Từ sau bàn giấy trong sảnh chính, tôi quan sát lũ con gái choai choai ngực nở bước lẹ làng lên cầu thang cẩm thạch to tướng dẫn tới phòng đọc chính. Cái cầu thang này nhái theo một đường cầu thang ở đâu đó tại Versailles, tuy rằng trong những chiếc quần bò và áo cổ lọ các cô con gái của các vị thợ da Ý, thợ nấu bia Ba Lan, và nhà buôn lông thú Do Thái khó có thể là những nữ công tước. Họ cũng không phải Brenda, và mọi ham muốn lóe lên trong tôi suốt một ngày rầu rĩ chỉ là mang tính học thuật và cho qua thời gian. Thỉnh thoảng tôi lại coi đồng hồ, nghĩ tới Brenda, và chờ đến bữa trưa, khi tôi sẽ ngồi vào Bàn hướng dẫn trên lầu còn John McKee, cái gã mới hăm mốt mà đã đeo băng thun quanh tay áo, sẽ lờ đờ đi xuống tầng trệt để hì hục với việc đóng dấu sách mượn và trả. Tên John Mc Băng-Thun này đang học năm cuối Đại học Sư phạm Newark nơi hắn nghiên cứu hệ thập phân Dewey chuẩn bị cho sự nghiệp một đời của hắn. Thư viện không phải là sự nghiệp trọn đời của tôi, tôi biết thế. Tuy vậy, đã có phong thanh – từ ông Scapello, một lão thái giám già đã học được cách giả nói giọng đàn ông bình thường – rằng sau kỳ nghỉ hè tôi sẽ được giao coi sóc Phòng tham khảo, một vị trí đã bỏ trống kể từ buổi sáng nọ khi Martha Winney trong Phòng bách khoa tự điển ngã từ cái đôn cao xuống và bị gãy hết những cái xương mỏng manh hình thành nên bộ phận mà ở một phụ nữ bằng nửa tuổi bà ta chúng tôi sẽ gọi là hông.

Tôi có những đồng nghiệp kỳ lạ ở thư viện và, nói thật, có nhiều giờ liền tôi hoàn toàn không biết làm sao tôi đến được đó và tại sao mình ở lại đó. Nhưng tôi đã ở lại và sau một thời gian đã kiên nhẫn chờ đợi một ngày tôi được vào phòng nghỉ nam ở tầng chính để hút một điếu thuốc và ngắm nghía mình trong khi thổi khói thuốc vào mặt gương, được thấy rằng vào lúc nào đó trong buổi sáng mình tái nhợt đi, và thấy dưới lớp da của tôi, cũng như của McKee với Scapello và bà Winney, đã có một lớp đệm khí mỏng tách máu ra khỏi da thịt. Có ai đó đã bơm khí vào đó khi tôi đóng dấu cho mượn sách, và thế là cuộc sống từ nay sẽ chẳng còn là chuyện bỏ đi, như đối với dì Gladys, và cũng chẳng phải chuyện giành được, như với Brenda, mà là chuyện văng từ chỗ này sang chỗ kia, một sự đờ đẫn. Tôi bắt đầu thấy sợ điều này, tuy rằng, trong sự chú ý không chút sinh lực dành cho công việc, tôi hình như nhích dần tới điều đó, một cách lặng lẽ, như bà Winney vẫn thường nhích đến bộ Britanica. Cái đôn của bà hiện bỏ trống và đang chờ tôi.

Ngay trước giờ ăn trưa, cậu nhỏ luyện sư tử đá mở to mắt bước vào thư viện. Cậu đứng yên một lát, chỉ có những ngón tay động đậy, làm như đang đếm những bậc cầu thang đá hoa trước mặt. Rồi cậu e dè bước đi loanh quanh trên nền đá hoa, cười khùng khục với tiếng đế giày lạch cạch của cậu và cái kiểu những âm thanh nho nhỏ ấy vọng lên tới trần vòm của đại sảnh. Otto, ông bảo vệ ở cửa, bảo cậu đừng để giày kêu như thế, nhưng chuyện đó coi bộ không phiền gì cậu. Cậu vẫn kêu lộp cộp khi nhón gót cao lên, một cách lặng lẽ, khoái chí với cơ hội mà Otto đã cho cậu để tập luyện tư thế này. Cậu ta rón rén tới chỗ tôi.

“Nè,” cậu nói, “khu tim ở đâu?”

“Khu gì?” tôi hỏi.

“Khu tim. Đây không có khu tim à?”

Cậu nói giọng miền nam đặc sệt và âm duy nhất tôi nghe rõ là âm nghe như chữ tim.

“Đánh vần chữ đó làm sao?” tôi nói.

“Thì tờ im tim. Trời đất, hình vẽ đó. Sách có hình vẽ. Thứ đó để đâu?”

“Cậu muốn nói sách hội họa. In lại họa phẩm hả?”

Cậu ta đồng ý ngay với thuật ngữ loằng ngoằng của tôi. “Ờ, nó đó.”

“Ở vài ba chỗ lận,” tôi bảo cậu. “Cậu muốn xem họa sĩ nào?”

Cậu ta nheo mắt lại khiến cả khuôn mặt chỉ còn là màu đen. Cậu giật lui ra, như khi đứng trước con sư tử. “Tất cả bọn họ…” cậu làu bàu.

“Được rồi,” tôi nói. “Cậu cứ đi xem bất cứ họa sĩ nào cậu muốn. Theo cầu thang kế lên trên. Đi theo mũi tên đến chỗ ghi Dãy Ba. Nhớ không? Dãy Ba. Lên lầu rồi hỏi.”

Cậu ta chẳng nhúc nhích; có vẻ cậu ta đang xem sự tò mò của tôi về đề tài tìm hiểu của cậu như một kiểu điều tra thuế thân. “Đi đi,” tôi nói, bày ra một nụ cười trên khuôn mặt, “ngay trên kia…”

Và như một phát đạn cậu ta len lỏi và lộp cộp đi lên khu tim.

Sau bữa trưa tôi trở lại bàn mượn và trả sách và John McKee đã chờ sẵn ở đó trong áo sơ mi đeo băng thun, quần xanh nhạt và giày đen, và một cà vạt đan lớn, màu xanh lá cây, thắt kiểu Winsor thành cái nút to tướng cứ giật tưng tưng khi hắn ta nói chuyện. Hơi thở hắn thì sặc mùi dầu chải tóc còn tóc hắn sặc mùi hơi thở và khi hắn nói, nước bọt tụ lại ở khoé miệng. Tôi không ưa hắn và có những lúc tôi có thôi thúc muốn kéo giãn sợi băng thun và bắn hắn đi như bắn bằng dàn thun bay qua chỗ Otto và những con sư tử ra tới ngoài đường.

“Có thấy một cậu bé da đen ra khỏi đây không? Có giọng nói rất khó nghe? Nó chúi đầu vào sách nghệ thuật suốt sáng nay. Ông biết những đứa như vậy thường làm gì trong đó mà.”

“Tôi có thấy nó đi vào, John.”

“Tôi cũng thấy. Nhưng vấn đề là nó ra chưa kìa.”

“Tôi không để ý. Chắc ra rồi.”

“Thứ sách đó rất đắt tiền.”

“Đừng ưu tư như vậy, John. Mình biết người ta đương nhiên sẽ lục lọi sách mà.”

“Thì lục lọi,” John nói một cách nghiêm trọng, “lúc nào cũng lục lọi. Phải có ai coi chừng nó chứ. Tôi không dám rời khỏi bàn này. Ông biết họ cư xử thế nào với những dự án gia cư chúng ta dành cho họ mà.”

“Ông dành cho họ hả?”

“Thành phố chứ. Ông thấy họ làm gì ở Seth Boyden không? Họ vất đầy những chai bia, thứ lớn đó, ra bãi cỏ. Họ chiếm cả thành phố này mất.”

“Chỉ những khu da đen thôi.”

“Cười thì dễ lắm. Ông đâu có sống gần họ. Tôi sẽ báo cho văn phòng ông Scapello để kiểm tra khu nghệ thuật. Ông ấy từng tìm ra chỗ nào về nghệ thuật nhỉ?”

“Ông sẽ làm ông Scapello loét bao tử mất, ngay khi ông ấy vừa ăn sandwich với trứng có rắc tiêu. Để tôi đi kiểm tra, đằng nào tôi cũng phải lên lầu mà.”

“Ông biết là chúng vẫn làm gì trong đó mà.” John nhắc chừng tôi.

“Đừng lo, Johnny, đó là những người có chai sần đầy tay.”

“Hơ hơ. Mấy cuốn sách đó lại đắt đến…”

Vậy là ông Scapello sẽ không ghé vào chỗ cậu bé với những ngón tay đầy phấn, tôi leo ba cầu thang lên Dãy Ba, qua phòng tiếp nhận sách, nơi Jimmy Boylen mắt kèm nhèm, một ông năm mươi mốt tuổi, đang chất sách từ một xe đẩy xuống; đi qua phòng đọc, nơi dân lang thang của phố Mulberry ngủ gục trên những tờ Popular Mechanics; qua hành lang hút thuốc nơi những sinh viên trường luật trán rịn mồ hôi ngồi xả hơi, một số hút thuốc, số khác đang cố chùi thuốc màu dính trên ngón tay từ các giáo trình về tội phạm; và sau cùng, đi qua phòng tạp chí, nơi có mấy bà già được chở từ Upper Montclair xuống hiện đang co người trên ghế, rà kiếng trên những trang tin về giới thượng lưu của tờ Newark News cũ xì vàng ố. Tới Dãy Ba tôi thấy cậu bé. Cậu ngồi bệt dưới sàn giữ một cuốn sách rộng mở trên lòng, một cuốn sách, thực tình, còn bự hơn lòng cậu và cậu phải dùng hai đầu gối chõi nó lên. Với ánh sáng từ cửa sổ phía sau cậu tôi có thể thấy hằng trăm khoảng trống chen giữa hằng trăm những sợi tóc loăn xoăn lò xo của cậu. Cậu rất đen và bóng và đôi môi của cậu không có vẻ mang một màu khác mà nó trông như chưa hoàn tất và còn chờ tu sửa thêm. Đôi môi ấy hở ra, đôi mắt mở rộng, và ngay cả đôi tai coi bộ cũng có độ tiếp nhận cao. Cậu trông cực kỳ khoái chí – tức là, cho đến khi nhìn thấy tôi. Vì cậu cứ ngỡ tôi là John McKee.

“Được rồi,” tôi nói trước khi cậu kịp cử động, “tôi chỉ đi ngang qua đây thôi. Cứ đọc đi.”

“Có gì đâu mà đọc. Toàn là hình.”

“Tốt.” Tôi xem xét loanh quanh những tầng kệ thấp nhất trong một lát, giả như đang làm việc.

“Này, ông ơi,” lát sau cậu ta kêu, “cái này ở đâu?”

“Cái gì ở đâu?”

“Những hình này ở đâu? Những người này, trời, coi họ lì thiệt. Họ không kêu la gì hết trơn, ông coi nè.”

Cậu giơ cuốn sách cho tôi xem. Đó là một cuốn sách khổ lớn đắt tiền in lại tranh Gauguin. Trang cậu đang xem có in màu một bức tranh vẽ ba phụ nữ bản xứ đứng lộâi tới gối trong một dòng nước màu hoa hồng. Đó vốn là một bức tranh im lặng, cậu ta nói đúng.

“Đó là Tahiti. Một hòn đảo ở Thái Bình Dương.”

“Không phải chỗ mình tới được, đúng không? Giống một điểm du lịch hả?”

“Tới được chứ, tôi nghĩ thế. Nó xa lắm. Người ta sống ở đó…”

“Nè, coi nè, coi cái này nè.” Cậu lật ngược tới một trang có một thiếu nữ da nâu đang khom người tới trước, như đang hong tóc. “Trời,” cậu ta nói, “Thật là một cuộc đời chó đẻ.” Nỗi hào hứng trong lối ăn nói của cậu hẳn sẽ khiến cậu bị cấm cửa vĩnh viễn đối với Thư viện công cộng Newark và các chi nhánh của nó nếu như John hoặc ông Scapello – hoặc, xin Chúa thương, bà Winney nằm nhà thương – là người đi kiểm tra.

“Ai chụp những hình này vậy?” cậu hỏi tôi.

“Gauguin. Ông ta không có chụp, mà vẽ đấy. Paul Gauguin. Ông ta người Pháp.”

“Ông ấy da trắng hay da màu?”

“Ông ấy da trắng.”

“Trời trời,” cậu mỉm cười, gần như khúc khích thành tiếng, “Tôi hiểu rồi. Ông ta không chụp hình như người da trắng thường làm. Ông ta chụp hình giỏi đấy… Coi cà, coi cà, coi hình này nè. Cuộc đời vầy không chó đẻ quá sao?”

Tôi đồng ý nó là thế và bỏ đi.

Lát sau tôi nhờ Jimmy Boylen phóng xuống thang để cho McKee hay rằng mọi chuyện đều ổn. Rồi hết ngày đó cũng chẳng có chuyện gì. Tôi ngồi ở Bàn hướng dẫn nghĩ về Brenda và tự nhắc mình rằng tối hôm đó tôi phải đổ xăng trước khi đi Short Hills, nơi mà bây giờ tôi thấy rõ, bằng con mắt trí nhớ, đang lúc hoàng hôn, đỏ quạch màu hoa hồng, như một dòng nước của Gauguin.

* * *

Khi tôi đậu xe trước nhà Patimkin tối hôm đó, mọi người, ngoại trừ Julie, đang đợi tôi ở hàng hiên: ông bà chủ nhà, Ron, và Brenda, mặc một cái váy dài. Trước đây tôi chưa từng thấy nàng mặc váy dài và trong thoáng chốc nàng trông không giống cô gái tôi quen nữa. Nhưng đó mới chỉ là một nửa nỗi ngạc nhiên. Có quá nhiều sinh viên nữ té ra có giò cẳng chỉ để mặc soóc. Brenda thì không. Trong chiếc váy, trông nàng cứ như cả đời chỉ ăn mặc như thế, như thể nàng chưa từng mặc soóc, hay đồ tắm, hay áo ngủ, hay bất cứ gì khác ngoài cái váy vải gai màu nhạt ấy. Tôi bước đi hơi hăng hái ngược lên vuông cỏ, qua chỗ cây liễu già rũ nhánh, về phía nhà Patimkin đang đứng chờø mà lòng cứ áy náy phải chi mình đã đem xe đi rửa. Tôi chưa đến được chỗ họ thì Ron đã bước xuống và bắt tay tôi, nồng nhiệt, cứ như anh ta không được gặp tôi kể từ thời Diaspora.
(#1) Bà Patimkin mỉm cười còn ông Patimkin ậm ừ điều gì đó và cứ giật giật cổ tay, rồi giơ lên một cây gậy đánh golf tưởng tượng và quất bóng ma của một trái banh golf bay về phía dãy núi Orange, tôi tin rằng nó được gọi là Orange (màu cam) vì trong ánh sáng ngoại ô rất hay thay đổi này thì đó là màu duy nhất mà dãy núi đó không có.

“Nhà em sẽ về liền,” Brenda nói với tôi. “Anh coi chừng Julie. Carlota hôm nay nghỉ.”

“Được mà,” tôi nói.

“Nhà em đưa Ron ra phi trường.”

“Được.”

“Julie không muốn đi. Nó nói chiều nay Ron đẩy nó trong hồ tắm. Nhà em đã chờ anh đến, để khỏi trễ chuyến bay của Ron. Được chứ?”

“Được.” Ông bà Patimkin và Ron đã cho xe chạy ra, và tôi cho Brenda một cái nhìn tỏ ý bực bội. Nàng thò tay ra cầm lấy tay tôi một lúc.

“Em thích em cỡ nào?” nàng nói.

“Được chăm sóc em thì quá tuyệt. Anh có được dùng mọi thứ sữa và bánh tùy ý không?”

“Đừng bực, cưng. Nhà em sẽ về liền mà.” Rồi nàng đợi một lát, và khi thấy tôi không xẹp được cái chu mỏ bực bội, nàng cũng cho tôi một cái nhìn tóe lửa luôn, chẳng úp mở gì cả. “Em muốn nói anh thích em cỡ nào trong cái váy này!” Rồi nàng chạy về phía chiếc Chrysler, lóc cóc trên đôi gót cao như một con ngựa non.

Sau khi bước vào nhà, tôi sập khung cửa lưới cái rầm sau lưng mình.

“Đóng cửa ngoài lại luôn,” một giọng trẻ con la lên. “Có máy lạnh mà.”

Tôi vâng lời đóng luôn cửa ngoài.

“Neil hả?” Julie kêu.

“Ờ.”

“Chào anh. Chơi bóng rổ nghe?”

“Thôi.”

“Sao vậy?”

Tôi không đáp.

“Em ở phòng tivi nè,” cô bé kêu lên.

“Tốt.”

“Anh được giao ở nhà với em hả?”

“Ờ.”

Cô bé bất ngờ xuất hiện ở ngõ phòng ăn. “Muốn đọc bài tóm lược sách của em không?”

“Bây giờ thì không.”

“Thế anh muốn làm gì?” nó hỏi.

“Chẳng gì cả, bé ạ. Sao em không coi tivi đi?”

“Được rồi,” nó nói với vẻ bực bội, và dằn dỗi đi trở lại phòng tivi.

Tôi đứng một lát trong tiền sảnh, quay quắt với ý muốn lặng lẽ ra khỏi căn nhà, chui vào xe, và trở về Newark, nơi tôi có lẽ chỉ ngồi trong lối ngõ công viên và nhai kẹo một mình. Tôi cảm thấy giống Carlota; không, thậm chí cũng không được thoải mái như thế. Sau cùng tôi rời tiền sảnh và bắt đầu đi vô đi ra khắp các phòng ở tầng trệt. Cạnh phòng khách là một phòng nghiên cứu, một căn phòng lót ván thông thô đầy những ghế vuông bọc da và toàn tập bộ Information Please Almanacs. Trên tường có ba bức vẽ theo ảnh chụp; đó là loại tranh, bất kể đề tài là ai, dù họ khoẻ mạnh hay ốm yếu, già hay trẻ, thì đều có đặc trưng là má phính, môi mọng, răng trắng tinh, và mái tóc sáng bóng, như kim loại. Đề tài trong trường hợp này là Ron, Brenda và Julie vào khoảng mười bốn, mười ba và hai tuổi. Brenda có mái tóc nâu dài, cái mũi có khối kim cương, và không đeo kính; tất cả kết hợp lại để làm nàng trông cứ như một cô gái hoàng tộc mười ba tuổi vừa mới biết buồn. Ron trông mập hơn và đường chân tóc thấp hơn, nhưng lòng yêu mến các vật thể hình cầu và những sân chơi có đường biên đã nhấp nháy trong đôi mắt trẻ thơ của cậu ấy. Cô bé Julie biến mất tiu trong quan niệm quá lý tưởng về tuổi thơ của người vẽ; chút xíu chất người của cô bé bị bóp chết ngạt đâu đó đàng sau những mảng màu hồng và trắng.

Quanh đó còn có những bức ảnh khác, nhỏ hơn, chụp bằng máy Brownie Reflex trước khi trò vẽ theo ảnh chụp trở thành thời thượng. Có một bức nhỏ chụp Brenda trên lưng ngựa, một bức khác chụp Ron trong bộ đồ ngày lễ thêm sức của trẻ con Do Thái, với khăn quấn đầu và áo chùng, và hai ảnh trong cùng một khung – gồm một ảnh phụ nữ xinh đẹp, đã phai màu, mà nhìn đôi mắt tôi đoán chắc là mẹ bà Patimkin, và ảnh kia chính là bà Patimkin, mái tóc có quầng sáng, đôi mắt vui vẻ chứ không như đôi mắt hiện nay của một bà mẹ đứng tuổi chậm chạp có đứa con gái nhanh nhẹn và dễ thương.

Tôi đi qua một cửa vòm để vào phòng ăn và đứng một lát nhìn ra cái cây dụng cụ thể thao. Từ phòng tivi sát cạnh phòng ăn, tôi nghe thấy Julie đang xem chương trình This Is Your Life. Căn bếp ở mé kia phòng ăn chẳng có ai, và rõ ràng, khi Carlota vắng mặt, nhà Patimkin đã ăn tối ở câu lạc bộ. Phòng ngủ của ông bà Patimkin ở giữa toà nhà, kế tiền sảnh, cạnh phòng ngủ của Julie, và trong thoáng chốc tôi muốn biết hai ông bà bự con ấy ngủ trên cái giường cỡ nào – tôi tưởng tượng nó rộng và sâu như cái hồ bơi – nhưng tôi phải hủy cuộc tuần tra vì Julie có nhà, và thay vào đó tôi mở cánh cửa trong bếp dẫn xuống tầng hầm.

Tầng hầm có kiểu mát mẻ khác hẳn ngôi nhà, và nó có một mùi, thứ mùi gì đó bên trên không hề có. Dưới đây có vẻ như hang hốc, nhưng hang hốc một cách dễ chịu, tựa như những cái hang nhà chòi mà trẻ con dựng cho chúng trong những ngày mưa, trong phòng xép, chui trong chăn, hoặc dưới gầm bàn ăn. Tôi bật ngọn đèn dưới chân thang và không ngạc nhiên trước lớp vách ván thông, những đồ đạc bằng tre, bàn bóng bàn và một quầy rượu gắn gương chất đủ cỡ đủ loại ly, xô đá, chai chắt rượu, bình pha rượu, que quấy rượu, ly đong rượu, tô đựng bánh qui – đủ các thứ phụ tùng nhậu nhẹt, tràn ngập, ngăn nắp, và không ai đụng đến, như chỉ có thể thấy ở quầy rượu của một kẻ nhà giàu chẳng bao giờ chiêu đãi dân nhậu mà chính y cũng không uống rượu, kẻ mà trong thực tế lãnh một cái nhìn nghi ngờ của bà vợ khi vài tháng một lần y làm một ngụm rượu mùi trước bữa ăn. Tôi đi vào sau quầy trong đó có một cái bồn rửa bằng nhôm mà nó chưa từng được nhận cái ly bẩn nào, tôi chắc chắn thế, kể từ ngày làm lễ thêm sức cho Ron, và có lẽ sẽ không nhận được cái ly nào nữa cho đến ngày mấy đứa con nhà Patimkin kết hôn hoặc đính hôn. Có thể tôi đã tự rót cho mình một ly – coi như một thứ thù lao quái qủy cho việc bị buộc phải làm thân giữ nhà – nhưng tôi không khoái việc gỡ niêm trên một chai whisky. Bạn phải gỡ niêm mới có được một cốc rượu. Trên kệ sau quầy có cỡ hai tá – chính xác là hai mươi ba- chai Jack Daniels, mỗi chai có một tờ bướm cột ở cổ chai cho người làm chủ chai rượu biết họ sang trọng cỡ nào khi uống thứ rượu này. Và phía trên mớ Jack Daniels lại có mấy bức ảnh nữa: một bản photo phóng to bức hình trên báo chụp Ron đang chặn một trái bóng rổ như một trái nho; dưới bức hình có chú thích, “Trung phong, Ronald Patimkin, Trung học Millburn, 6 ft. 4 inch, 217 cân Anh.” Lại có một bức khác chụp Brenda trên lưng ngựa, và kế đó có một tấm ván bọc nhung có đính nhiều băng vải và huy chương: Triển lãm ngựa Hạt Essex 1949, Triển lãm ngựa Hạt Union 1950, Hội chợ Garden State 1952, Triển lãm ngựa Morristown 1953, đại loại như thế – tất cả là cho Brenda, vì đã nhảy, chạy hoặc phóng ngựa hoặc bất cứ trò gì các cô vẫn làm để đoạt được các loại băng vải. Trong cả cái nhà này tôi chẳng thấy bức ảnh nào của ông Patimkin.

Phần còn lại của căn hầm, đàng sau căn phòng lót ván thông, là vách tường xi măng và nền trải vải bạt và chứa rất nhiều dụng cụ điện, trong đó có cả một tủ ướp lạnh to tướng đủ chứa cả một gia đình Eskimo. Cạnh cái tủ đó là một tủ lạnh cao đã cũ; sự có mặt lâu đời của nó nhắc tôi nhớ đến cội rễ của nhà Patimkin ở Newark. Chính cái tủ lạnh này đã từng đứng trong bếp của một căn hộ trong một ngôi nhà dành cho bốn gia đình nào đó, có lẽ ngay trong khu tôi đã sống cả đời mình, đầu tiên là với bố mẹ tôi và rồi, khi hai người đó biến đi Arizona, thì tôi sống với chú dì của tôi. Sau vụ Trân Châu Cảng, cái tủ lạnh đã chuyển tới Short Hills; sản phẩm Bồn Rửa và Bồn Tắm Patimkin đã tham gia chiến tranh; không dãy nhà trú quân mới nào là hoàn tất trước khi có được một tiểu đội bồn tắm Patimkin xếp ngay ngắn trong khu vệ sinh của nó.

Tôi mở cánh cửa của cái tủ lạnh cũ; nó không trống rỗng. Nó không còn chứa bơ, trứng, cá trích với sốt kem, bia, rau trộn cá hồi, một bó hoa nhỏ nhân dịp nào đó nữa, nhưng nó chất cả đống trái cây, tầng nào cũng đầy ứ, đủ màu, đủ vẻ, và giấu bên trong là đủ loại hột. Có mận lục, mận đen, mận đỏ, mơ, xuân đào, đào, những chùm nho dài, đen, vàng , đỏ và anh đào, anh đào tràn từ hộp ra và vấy bẩn mọi thứ với màu tía của nó. Lại còn có dưa nữa – dưa đỏ và dưa bở – và ở tầng trên cùng là nửa trái dưa hấu to đùng, một tờ giấy sáp mỏng dán sát vào bề mặt đỏ lự của nó như một cặp môi ướt. Ôi Patimkin! Trái cây mọc trong tủ lạnh nhà họ và dụng cụ thể thao rụng từ trên cây xuống!

Tôi bốc một nắm anh đào rồi thêm một quả xuân đào, và cắn một phát vào tới tận hột.

“Anh phải rửa trước nếu không là bị tiêu chảy đó.”

Julie đang đứng sau lưng tôi trong căn phòng vách ván. Nó mặc quần bò Bermuda và áo thun trắng của nó, bộ này không giống bộ của Brenda chỉ vì trong đó nó có chút tiểu sử ăn kiêng của riêng nó.

“Cái gì?” tôi hỏi.

“Mớ này chưa rửa,” Julie nói, và với một kiểu như muốn đặt cái tủ lạnh vào khu vực cấm lai vãng, có điều là chỉ với tôi thôi.

“Cũng được thôi.” Tôi nói, và ăn hết trái xuân đào, bỏ hột vào túi và bước ra khỏi phòng để tủ lạnh, tất cả chỉ trong một giây. Tôi vẫn chưa biết phải làm gì với mớ anh đào. “Anh chỉ đi xem quanh quẩn thôi,” tôi nói.

Julie không đáp.

“Ron đi đâu vậy?” tôi hỏi, bỏ mớ anh đào vào túi, chung với mớ chìa khóa và tiền lẻ.

“Miwaukee.”

“Đi bao lâu?”

“Đi thăm Harriet. Hai người yêu nhau.”

Chúng tôi nhìn nhau lâu hơn mức tôi có thể chịu đựng. “Harriet hả?” tôi hỏi.

“Ừ.”

Julie nhìn tôi cứ như nó đang cố nhìn ra sau lưng tôi, và tôi nhận ra tôi đang đứng cắp tay sau đít. Tôi bèn đưa hai tay ra trước, và, tôi thề đó, nó đã dòm lom lom xem hai tay tôi có cầm gì không.

Chúng tôi lại đối mặt nhau; nó hình như có nét đe dọa trên khuôn mặt.

Rồi nó nói. “Muốn chơi bóng bàn không?”

“Ồ, muốn chứ,” tôi nói và phóng hai bước dài tới bàn bóng. “Em giao banh đi.”

Julie mỉm cười và chúng tôi bắt đầu chơi.

Tôi không có gì để bào chữa cho chuyện xảy ra kế đó. Tôi bắt đầu thắng và khoái tợn.

“Cho em đánh lại cú này nghe?” Julie nói. “Hôm qua em bị đau ngón tay rồi khi giao banh nó đau lại.”

“Không được.”

Tôi tiếp tục thắng.

“Vậy là không công bằng, Neil. Dây giày em tuột ra rồi. Cho em đánh lại…”

“Không.”

Chúng tôi chơi, còn tôi chơi một cách hung hãn.

“Neil, anh tựa vào bàn. Vậy là phạm luật…”

“Anh không tựa và nó không phạm luật.”

Tôi cảm thấy mớ anh đào nhảy tưng tưng bên những đồng xu đồng hào của tôi.

“Neil, anh ăn gian em một điểm. Anh mười chín còn em mười một…”

“Hai mươi - mười,” tôi nói. “Giao đi!”

Nó giao banh và tôi quật banh trở lại bay quá chỗ con bé – trái banh bay khỏi bàn và vụt vào phòng tủ lạnh.

“Anh ăn gian!” nó gào vào mặt tôi. “Anh ăn gian!” Quai hàm nó run run cứ như nó đang đội một vật nặng trên cái đầu xinh xắn. “Em ghét anh!” Và nó ném vụt cái vợt đi, cây vợt đụng quầy rượu rơi xuống ngay lúc, ở bên ngoài, tôi nghe tiếng chiếc Chrysler cán sỏi lạo xạo trên lối xe chạy.

“Chưa hết ván mà,” tôi nói với nó.

“Anh ăn gian! Mà anh còn ăn cắp trái cây nữa!” nó nói, và bỏ chạy đi trước khi tôi kịp thắng ván đấu.

* * *

Khuya đó, Brenda với tôi làm tình, lần đầu tiên. Chúng tôi đang ngồi trên trường kỷ trong phòng tivi và chẳng nói với nhau lời nào trong khoảng mười phút. Julie đã đi ngủ một giấc đầy nước mắt từ lâu, và tuy chẳng ai nói gì với tôi về việc nó khóc lóc, tôi cũng không biết nó có mách chuyện tôi bốc một nắm anh đào không, mà cái mớ đó hồi nãy tôi đã cho vào bồn cầu và giật nước cho trôi sạch.

Cái tivi vẫn mở và tuy âm thanh đã bị bật câm và căn nhà yên lặng, những hình ảnh xám vẫn nhảy múa ở tuốt cuối phòng. Brenda im lặng và cái váy của nàng phủ quanh cặp giò xếp kín bên dưới. Chúng tôi ngồi im re ở đó một hồi. Rồi nàng vào bếp và khi trở ra nàng bảo nghe chừng cả nhà đã ngủ hết rồi. Chúng tôi ngồi tiếp một lát nữa, xem những nhân vật vô thanh trên màn hình đang dùng một bữa tối câm lặng trong một nhà hàng câm lặng của ai đó. Khi tôi bắt đầu cởi nút chiếc váy nàng đã kháng cự, và tôi thích nghĩ rằng đó là do nàng biết mình mặc chiếc váy ấy thì trông dễ thương đến cỡ nào. Nhưng Brenda của tôi, dù gì trông cũng dễ thương như thường, và hai đứa xếp nó lại cẩn thận và ôm nhau quấn quít và rồi chúng tôi như thế, Brenda ngả xuống, chậm rãi nhưng với một nụ cười, còn tôi chồm lên.

Làm sao tôi diễn tả được việc yêu Brenda? Nó thật ngọt ngào, cứ như sau cùng tôi đã ghi được điểm thứ hăm mốt đó.

Khi về tới nhà tôi quay số Brenda, nhưng bà dì tôi đã kịp nghe thấy và ra khỏi giường.

“Giờ này mà mày kêu ai vậy? Bác sĩ hả?”

“Không.”

“Vậy gọi điện gì lúc một giờ khuya vậy?”

“Shhh!” tôi nói.

“Nó shhh với tôi kìa. Gọi điện lúc một giờ khuya, hóa đơn điện thoại chưa đủ nặng chắc,” rồi bà lại loẹt quẹt vào giường, ở đó với tấm lòng tử vì đạo và đôi mắt nhoè nhoẹt bà đã chống lại cơn buồn ngủ ập xuống cho đến khi nghe tiếng chìa khóa của tôi ở cửa.

Brenda trả lời điện thoại.

“Neil hả?”

“Ừ,” tôi thì thào. “Em không ra khỏi giường, phải không?”

“Không,” nàng nói, “điện thoại ngay cạnh giường.”

“Tốt. Ngủ được không?”

“Ngon. Anh lên giường chưa?”

“Rồi,” tôi nói xạo, và cố sửa chữa bằng cách cầm dây kéo điện thoại lại gần phòng ngủ của tôi đến hết mức có thể.

“Em cũng ở trên giường với anh,” nàng nói.

“Đúng,” tôi nói, “anh cũng ở bên em.”

“Em đã kéo rèm xuống, nên tối hù và em không nhìn thấy anh.”

“Anh cũng không nhìn thấy em.”

“Vậy là tuyệt quá, Neil.”

“Ừ. Ngủ đi, cưng, anh ở đây đây.” Và chúng tôi gác máy mà không nói tạm biệt. Đến sáng, theo kế hoạch, tôi gọi lại, nhưng tôi khó mà nghe được tiếng của Brenda hay chính tôi, vì dì Gladys với chú Max định dự một buổi dã ngoại của Hội Workmen’s Circle vào chiều hôm đó, và có chuyện om sòm gì đó về mớ nước nho từ một cái bình trong tủ lạnh đã chảy suốt đêm và đến sáng thì nó đã rỉ xuống tới sàn. Brenda vẫn còn trên giường và do đó có thể ít nhiều chơi được trò chơi của chúng tôi, còn tôi phải kéo rèm che kín mọi giác quan để tưởng tượng tôi đang ở bên nàng. Tôi chỉ còn nước cầu mong những tối những sáng của tụi tôi sẽ đến, và chúng đã đến ngay.



Chú thích:



(1-) Diaspora: cuộc phân tán dân Do Thái sau thời kỳ lưu đày ở Babylone, theo Cựu Ước.



Suốt một tuần lễ rưỡi kế đó hình như chỉ có hai nhân vật trong đời tôi: Brenda và cậu bé da màu yêu Gauguin. Mỗi sáng trước khi thư viện mở cửa, cậu bé đã chờ sẵn; có khi cậu nhảy lên ngồi trên lưng con sư tử, có khi chui dưới bụng nó, có khi cậu chỉ đứng đâu đó chọi những viên sỏi vào mái bờm sư tử. Rồi cậu sẽ vào trong, đi lộp cộp ở sảnh chính cho đến khi Otto trừng mắt khiến cậu phải nhón gót lên, và sau cùng leo hết cái cầu thang đá hoa dẫn tới Tahiti của cậu. Không phải lúc nào cậu cũng ở tới tận trưa, nhưng một ngày rất nóng nực nọ cậu đã ở đó khi tôi đến vào buổi sáng và theo tôi bước ra khỏi cửa khi tôi ra về vào buổi tối. Sáng hôm sau, té ra, cậu không ló mặt tới, và cứ như để thế chỗ cậu, một ông rất già xuất hiện, da trắng, bốc mùi thuốc Life Savers, mũi và quai hàm ông ta lộ rõ những mạch máu dưới da. “Cậu chỉ giùm khu sách nghệ thuật được không?”

“Dãy Ba,” tôi nói.

Vài phút sau, ông ta trở lại với một cuốn sách lớn bìa nâu trong tay. Oâng ta đặt nó lên bàn của tôi, rút tấm thẻ thư viện trong một cái ví dài lâu nay chẳng còn đựng tiền bạc gì và chờ tôi đóng dấu cho mượn.

“Ông muốn mượn cuốn này về à?” tôi hỏi.

Ông ta mỉm cười.

Tôi cầm thẻ của ông ta và nhét phần mép bọc kim loại vào máy đóng dấu, nhưng tôi không dập máy. “Khoan đã,” tôi nói. Rồi lấy ra một xấp hồ sơ dưới hộc bàn và làm bộ lật lật vài trang, trên đó chỉ vẽ mấy trò chơi bắn tàu và cờ ca rô tôi vẫn chơi một mình trong tuần. “Tôi e rằng nó bị giữ trước rồi.”

“Tức là sao?”

“Giữ trước. Có người gọi tới và yêu cầu chúng tôi giữ cuốn này cho họ. Hay để tôi ghi tên và địa chỉ của ông và gửi phiếu khi nó được trả về…”

Và thế là tôi có thể đưa cuốn sách về chỗ của nó, tuy cũng phải đỏ mặt một hai phát. Sau đó khi cậu bé da đen xuất hiện, nó đã nằm nguyên ở chỗ cậu bỏ lại vào chiều hôm trước.

Còn về Brenda, tôi gặp nàng mỗi tối và khi không có trận đấu đêm nào khiến ông Patimkin phải thức coi trong phòng tivi, hoặc một sòng bài nào đó lôi bà Patimkin ra khỏi nhà và chỉ về nhà vào những giờ không đoán trước được, thì chúng tôi làm tình trước màn hình tivi câm lặng. Một tối trời thấp nóng ẩm nọ Brenda rủ tôi đi bơi ở câu lạc bộ. Chỉ có hai chúng tôi ở hồ, và tất cả những ghế gổng, đèn đóm, bạt dù, ván nhảy cầu và ngay cả mặt nước hình như tồn tại chỉ để chúng tôi vui thôi. Nàng mặc một bộ đồ xanh dương mà dưới ánh đèn trông cứ như tím và khi ở dưới nước nó ánh lên lúc thì màu xanh lá cây lúc thì đen. Về khuya một cơn gió nhẹ từ sân golf thổi lên và chúng tôi cuộn chung một tấm khăn tắm lớn, kéo hai cái ghế dài lại cạnh nhau, và mặc kệ tay đứng quầy rượu cứ đi đi lại lại suốt bên cửa sổ quán bar nhìn ra hồ, chúng tôi vẫn cứ nằm bên nhau trên ghế. Sau cùng ngọn đèn trong quán cũng tắt, và rồi, tách một tiếng, những đèn quanh hồ cũng tắt luôn. Tim tôi chắc là đập nhanh hơn, hay cái gì đó, vì Brenda hình như đoán ra nỗi e dè đột nhiên của tôi – mình phải về thôi, tôi nghĩ.

Nàng nói: “Thế được đấy.”

Chung quanh tối mò, bầu trời thấp và không ánh sao, phải mất một lúc tôi mới nhìn rõ được tấm ván nhảy hơi sáng hơn trời đêm, và phân biệt được mặt nước với những ghế gổng xếp quanh mé bên kia hồ.

Tôi kéo quai áo tắm của nàng xuống nhưng nàng bảo đừng và lăn cách khỏi tôi vài phân, và lần đầu tiên trong hai tuần qua tôi thấy nàng hỏi một câu về đời riêng của tôi.

“Bố mẹ anh đâu?” nàng hỏi.

“Ở Tuscon,” tôi nói. “Sao vậy?”

“Mẹ em hỏi em.”

Bây giờ tôi nhìn rõ được cái ghế của nhân viên cứu hộ, gần như trắng.

“Vậy sao anh ở đây? Sao anh không sống với bố mẹ?” nàng hỏi.

“Anh không còn đứa trẻ nữa, Brenda,” tôi nói, gắt gỏng hơn tôi dự định. “Anh đâu phải tò tò theo bố mẹ đi bất cứ đâu.”

“Nhưng sao anh sống với chú dì anh?”

“Họ đâu phải bố mẹ anh.”

“Họ tốt hơn à?”

“Không. Tệ hơn. Anh cũng không biết sao anh lại sống với họ.”

“Tại sao?” nàng hỏi.

“Tại sao anh không biết à?”

“Tại sao anh sống với họ? Anh biết mà, phải không?”

“Chắc do công việc. Sống ở đó tiện hơn, lại đỡ tốn nữa, và nó làm bố mẹ anh yên tâm. Thực ra bà dì của anh cũng tốt… Anh có phải giải thích cho mẹ em lý do anh sống ở chỗ hiện nay không?”

“Cái này không phải cho mẹ em. Chính em muốn biết kìa. Em tự hỏi sao anh không sống với bố mẹ, vậy thôi.”

“Em lạnh không?” tôi hỏi.

“Không.”

“Em muốn về chưa?”

“Chưa, trừ khi anh muốn. Anh không thấy thoải mái sao, Neil?”

“Anh ổn chứ,” và để nàng biết tôi vẫn bình thường, tôi kéo nàng sát vào người, tuy lúc đó tôi chẳng có chút thèm muốn nào.

“Neil?”

“Cái gì?”

“Công việc thư viện ra sao?”

“Ai muốn biết điều này đây?”

“Bố em,” nàng bật cười.

“Còn em?”

Nàng im lặng không trả lời một lát. Mãi nàng mới nói, “Cả em nữa.”

“Được, muốn biết chuyện gì? Anh có thích nó không hả? Nó tốt thôi. Anh đã từng đứng bán giày và thấy thích làm thư viện hơn. Sau khi xuất ngũ bố mẹ cho anh làm thử ít tháng ở công ty địa ốc của Chú Aaron – bố của Doris đó – và anh thấy thích làm thư viện hơn…”

“Sao anh xin được việc ở đó?

“Anh có làm ở đó một thời gian khi còn ở đại học, rồi khi anh bỏ chỗ làm với chú Aaron, ồ, anh chẳng biết nữa…”

“Ở đại học anh học gì?”

“Ở cơ sở Newark của Đại học Rutgers anh theo khoa triết. Lúc đó anh hăm ba tuổi. Anh…”

“Sao anh lại ăn nói khó chịu nữa rồi?”

“Vậy sao?”

“Ừ.”

Tôi chẳng nói xin lỗi quái gì cả.

“Anh có kế hoạch sống luôn với nghề thư viện không?”

“Bren, anh chẳng kế hoạch gì cả. Anh đã chẳng kế hoạch cái gì trong ba năm rồi. Ít nhất là trong năm anh vừa xuất ngũ. Hồi trong lính anh thừơng có kế hoạch đi chơi cuối tuần. Anh… anh không phải nhà kế hoạch.” Sau tất cả những sự thật tôi đã bất ngờ cho nàng hay, hẳn tôi đã phá hủy sạch mọi thứ của mình bằng lời nói dối sau cùng đó. Tôi thêm, “Anh là kẻ sống.”

“Còn em là kẻ chín,” nàng nói.
(#1)

Rồi nàng dẹp trò nói giỡn ngốc nghếch sang một bên; nàng muốn nghiêm túc.

“Anh có yêu em không, Neil?”

Tôi không đáp.

“Em sẽ ngủ với anh dù anh có yêu hay không, nên cứ nói thật với em đi.”

“Như thế hơi thô đấy.”

“Đừng thối tha thế,” nàng nói.

“Không, ý anh là nói về mình thì thô quá.”

“Em không hiểu,” nàng nói, và nàng không hiểu thật, và việc nàng không hiểu khiến tôi đau; tuy nhiên tôi vẫn tự cho mình một cái cớ vớ vẩn để bỏ qua sự thiếu tinh tế của nàng. “Anh có yêu không?”

“Không.”

“Em muốn anh yêu.”

“Thế còn thư viện?”

“Thư viện thì sao?”

Lại thiếu tinh tế nữa phải không? Tôi nghĩ rằng không – và nó không thật, vì Brenda nói, “Khi anh yêu em thì chẳng có gì phải ưu tư cả.”

“Thế thì dĩ nhiên anh sẽ yêu em.” Tôi mỉm cười.

“Em biết anh sẽ yêu,” nàng nói. “Sao anh không xuống bơi, và em sẽ nhắm mắt lại đợi anh, rồi khi trở lại anh sẽ ướt mem làm em ngạc nhiên. Đi đi.”

“Em thích chơi trò chơi phải không?”

“Đi đi. Em sẽ nhắm mắt lại.”

Tôi bước tới mép hồ và phóng xuống. Nước coi bộ lạnh hơn hồi nãy, và khi tôi lao vào và mù lòa chúi xuống sâu tôi chợt thấy hơi hoảng. Trồi trở lên, tôi bắt đầu bơi dọc hồ và đến cuối hồ thì lộn người bơi trở lại, nhưng đột nhiên tôi cảm thấy chắc rằng khi tôi rời khỏi hồ thì Brenda đã đi mất. Tôi sẽ trơ trọi một mình ở cái chỗ thổ tả này. Tôi bơi về mép hồ rồi bò lên và chạy tới chỗ mấy cái ghế, Brenda vẫn còn đó và tôi hôn nàng.

“Trời,” nàng run lên, “anh bơi có chút xíu à.”

“Anh biết.”

“Đến lượt em,” nàng nói, và rồi nàng đứng dậy và một giây sau tôi tiếng nước toé lên rồi chấm hết. Không nghe thấy gì cả hồi lâu.

“Bren,” tôi gọi khe khẽ, “em ổn không?” nhưng chẳng ai trả lời.

Tôi thấy mắt kiếng của nàng trên ghế cạnh tôi và cầm nó trong tay. “Brenda?”

Im re.

“Brenda?”

“Gọi hoài thì đâu có công bằng,” nàng nói và ngả thân hình ướt mem vào tôi. “Tới lượt anh,” nàng nói.

Lần này tôi lặn dưới nước một hồi lâu và khi trồi lên buồng phổi tôi muốn nổ tung. Tôi hất đầu ra sau để hít hơi và thấy bầu trời trên đầu, thấp tè như một bàn tay đang đè xuống, và tôi bắt đầu bơi như muốn thoát khỏi áp lực của nó. Tôi muốn trở lại với Brenda, vì tôi lại thấy lo âu – và chẳng có bằng chứng nào, phải không? – cho biết rằng nếu tôi bỏ đi quá lâu thì nàng sẽ không còn ở đó khi tôi trở lại. Tôi nghĩ phải chi mình cầm cái kiếng của nàng theo, để nàng phải chờ tôi đưa nàng về. Tôi biết mình đang có những ý nghĩ điên khùng, nhưng chúng vẫn có vẻ tất yếu trong cái cõi tối đen và xa lạ ở đây. Ôi tôi muốn từ dưới hồ này gọi tên nàng quá, nhưng tôi biết nàng sẽ không đáp và tôi cố ép mình bơi suốt hồ lần thứ ba, rồi lần thứ tư, nhưng bơi nửa chừng tua thứ năm thì tôi lại cảm thấy nỗi lo sợ quái gở đó, thoáng có ý nghĩ rằng chính mình sẽ tiêu ma, nên khi trở lại tôi đã ôm nàng cứng ngắc hơn cả mức hai đứa trông đợi.

“Buông ra nào,” nàng bật cười, “tới lượt em…”

“Nhưng Brenda…”

Nhưng nàng đã biến đi và lần này cứ như nàng không bao giờ trở lại. Tôi ngồi đó và đợi cho mặt trời tỏa sáng trên lỗ golf thứ chín, cầu mong nó sớm mọc cứ như chỉ vì thèm ánh sáng của nó, và sau cùng khi Brenda trở lại tôi sẽ không cho nàng bỏ đi nữa, và cái ướt lạnh của nàng đã ít nhiều bò qua tôi và khiến tôi rùng mình. “Vậy thôi. Brenda. Đừng chơi nữa mà,” tôi nói, và rồi khi lập lại tôi đã ôm nàng thật chặt đến mức như chìm hẳn vào người nàng, “Anh yêu em,” tôi nói, “Thật đó.”

* * *

Thế là mùa hè tiếp tục. Tôi gặp Brenda mỗi đêm: chúng tôi đi bơi, đi dạo, lái xe đi chơi, lên núi xa và lâu đến độ khi quay về sương mù đã tụ trên cây và tràn vào lòng đường, và tôi phải nắm chặt tay lái còn Brenda phải đeo kiếng vào để canh đường sơn trắng giữa lộ cho tôi. Và chúng tôi ăn – một vài tối sau khi tôi khám phá ra cái tủ lạnh thì chính Brenda dẫn tôi vào đó. Chúng tôi lấy từng tô đầy nhóc anh đào, và trên những đĩa để dọn món bò nướng chúng tôi chất ú hụ những lát dưa hấu. Rồi chúng tôi đứng dậy theo cửa sau của tầng hầm để ra bãi cỏ sau nhà rồi ngồi dưới gốc cây dụng cụ thể thao, ở đó nguồn ánh sáng duy nhất cho chúng tôi là từ phòng tivi. Có những lúc lâu âm thanh duy nhất chúng tôi nghe được là tiếng hai đứa phun hột trái cây. “Ước gì qua đêm là chúng mọc thành cây để đến sáng là có cả đống dưa hấu với anh đào.”

“Nếu chúng mọc được ở sân này, cưng, thì người ta đã trồng tủ lạnh với tủ đá Westinghouse Preferred rồi. Anh không định khó ưa đâu,” tôi vội vàng nói thêm, và Brenda sẽ cười, rồi nói nàng thích mận lục, tôi sẽ biến xuống tầng hầm và tô anh đào biến thành tô mận lục, rồi tới một tô xuân đào, rồi tới một tô đào, cho đến khi, cái này nói thật, tôi no muốn bể bụng, và chắc nguyên một tối hôm sau phải rầu rĩ nhịn không uống gì cả. Chúng tôi cũng ra ngoài để ăn sandwich bò muối, pizza, bia với tôm, soda kem và hamburger. Một tối nọ chúng tôi đi hội chợ của Câu lạc bộ Lions và Brenda thắng được một cái gạt tàn nhờ ném bóng vào rổ ba cú liên tiếp. Và khi Ron từ Milwaukee trở về thỉnh thoảng chúng tôi lại đi xem anh ta chơi bóng rổ trong giải mùa hè cho dân bán chuyên nghiệp, và chính trong những tối đó tôi thấy mình là kẻ xa lạ với Brenda, vì nàng biết tên mọi đấu thủ, và tuy phần lớn bọn họ thì xoàng và chân tay lóng ngóng, nhưng có một tay tên Luther Ferrari thì không, đó là anh chàng Brenda đã hẹn hò trong suốt một năm hồi trung học. Hắn là bạn thân nhất của Ron và tôi nhớ được tên hắn từng xuất hiện trên tờ Newark News: hắn là một trong những anh em nhà Ferrari lừng danh, tất cả bọn họ đều chơi ít nhất hai môn thể thao. Chính Ferrari là người gọi Brenda là Buck, một biệt danh chắc là có từ thời nàng giành được mấy sợi băng vải. Giống Ron, Ferrari lễ phép thái quá, làm như đó là chứng bệnh của những đứa cao hơn một mét chín; hắn cực kỳ lịch sự với tôi và lịch lãm với Brenda, và sau một thời gian là tôi bàn ra ngay mỗi khi có đề nghị đi xem Ron chơi bóng. Và rồi một đêm chúng tôi khám phá ra rằng cứ mười một giờ là người bán vé rạp hát Hilltop ra về còn ông chủ rạp thì biến vào văn phòng, nên mùa hè đó chúng tôi xem được đoạn cuối của ít nhất là mười lăm bộ phim, và khi lái xe về nhà – tức là, về nhà Brenda – chúng tôi sẽ cố dựng lại đoạn đầu bộ phim. Đoạn sau tụi tôi thích nhất là của phim Ma and Pa Kettle in the City, trái cây tụi tôi thích nhất, mận lục, và người tụi tôi thích nhất, duy nhất thích, là đứa này đối với đứa kia. Dĩ nhiên thỉnh thoảng tụi tôi cũng gặp người này người nọ, một số bạn là của Brenda, và thảng hoặc, một hai người bạn của tôi. Một đêm tháng Tám kia chúng tôi còn vào một quán rượu nằm tuốt ở đường số 6 cùng với Laura Simpson Stolowitch và anh chồng chưa cưới của cô ta nữa, nhưng đó là một buổi tối mắc mửa. Brenda với tôi hình như không có nghề nói chuyện với người khác, cho nên chúng tôi cứ khiêu vũ suốt, nhờ đó mà nhận ra chúng tôi chưa từng làm chuyện này với nhau. Anh bồ ruột của Laura uống cocktail một cách nặng phần trình diễn còn Simp – Brenda muốn tôi gọi cô ta là Stolo nhưng tôi không chịu – Simp uống một thứ pha trộn làng nhàng những thứ như bia gừng với soda. Mỗi khi bọn tôi trở lại bàn là lại nghe Simp nói về “buổi khiêu vũ” còn bạn trai cô nói về “bộ phim” cho đến khi sau cùng Brenda phải hỏi “Phim nào?” và rồi chúng tôi khiêu vũ cho đến giờ đóng cửa. Và khi về tới nhà Brenda tụi tôi lấy đầy một tô anh đào mang vào phòng tivi và ăn lép nhép một hồi; và sau đó, trên trường kỷ, hai đứa yêu nhau và khi tôi đi từ căn phòng tối đèn vào phòng tắm tôi luôn cảm hấy chân mình dẫm phải hột anh đào. Về đến nhà, cởi quần áo lần thứ nhì đêm đó, tôi còn thấy những vết ửng đỏ dưới gan bàn chân mình.

Còn bố mẹ nàng nghĩ sao về chuyện này? Bà Patimkin tiếp tục mỉm cười với tôi còn ông Patimkin cứ nghĩ tôi ăn như chim. Khi được mời tới ăn tối, tôi thường, vì muốn tốt cho ông, cố ăn gấp đôi những món tôi thích, nhưng sự thực có vẻ là sau khi ông xếp loại khả năng ăn uống của tôi lần đầu thì ông chẳng bao giờ thèm xem xét lại. Tôi có thể ăn gấp mười lần lượng bình thường của mình, hay sau cùng tử vong vì thức ăn, thì ông vẫn xem tôi chẳng phải đàn ông mà chỉ là một con én. Không ai có vẻ rầu vì sự có mặt của tôi, tuy Julie có lạnh nhạt đáng kể; sau cùng, khi Brenda đề nghị với bố nàng rằng cuối tháng Tám tôi sẽ tới chơi một tuần ở nhà nàng, ông ta ngẫm nghĩ một lát, chọn cây gậy golf số năm, quất phát khởi đầu, rồi nói “Được.” Và khi nàng thông báo lại với mẹ nàng về quyết định của ông Bồn Tắm Patimkin, thì bà Patimkin chẳng còn làm gì được. Nên, nhờ sự dàn xếp của Brenda, tôi đã được mời.

Vào sáng thứ Sáu đó, vốn là ngày làm việc cuối trong tuần, dì Gladys thấy tôi chuẩn bị hành lý và bà hỏi tôi tính đi đâu. Tôi nói bà nghe. Bà không nói gì và tôi thấy có gì kỳ kỳ trong đôi mắt hoảng loạn viền đỏ đó – tôi đã thay đổi nhiều kể từ ngày bà nói “Ly kỳ.” với tôi qua điện thoại.

“Mày đi bao lâu, tao phải biết để tính chuyện đi chợ tao sẽ không mua quá nhiều. Mày cứ để lại cho tao đầy một tủ lạnh sữa nó sẽ chua lên rồi ám mùi cả cái tủ…”

“Một tuần,” tôi nói.

“Một tuần à?” bà hỏi. “Người ta có phòng cho cả tuần sao?”

“Dì Gladys, họ đâu có sống bên trên một cửa hàng.”

“Tao sống bên trên cửa hàng tao không mắc cở. Tạ ơn Chúa là mình luôn có một mái nhà. Nhà tao chưa bao giờ phải đi xin ngoài đường,” bà nói trong khi tôi nhét vào bị cái quần Bermuda mới mua, “Susan em mày tụi tao cũng cho đi học đại học được, Chú Max phải sống và khoẻ mạnh. Tụi tao đâu có tống nó đi trại hè trong tháng Tám, nó không có được giày dép ngay khi nó muốn, không có một ngăn tủ đầy áo cổ lọ…”

“Con có nói gì đâu, dì Gladys.”

“Ở đây mày không có đủ cái ăn hả? Có khi mày bỏ mứa tao có chỉ cho chú Max mày xem thiệt là xấu hổ. Một đứa nhỏ châu Âu có thể lấy mớ mày bỏ mứa làm thành một bữa ăn bốn món đó.”

“Dì Gladys.” Tôi bước đến chỗ bà. “Ở đây con có mọi thứ cần thiết. Con chỉ đi nghỉ một chuyến thôi. Con không đáng hưởng một kỳ nghỉ sao?”

Bà ôm lấy tôi và tôi thấy người bà run run. “Tao đã nói với mẹ mày tao sẽ chăm sóc Neil của bà ấy bà ấy đừng lo. Mà bây giờ mày bỏ đi…”

Tôi vòng tay ôm và hôn lên đỉnh đầu bà. “Kìa, Dì.” Tôi nói, “Dì đừng có kỳ như thế. Con đâu có bỏ đi. Con chỉ đi chơi một tuần, đi nghỉ thôi mà.”

“Mày để lại số điện thoại cầu Chúa đừng để mày bệnh hoạn.”

“Được rồi.”

“Họ sống ở Millburn hả?”

“Short Hills. Con sẽ để lại số điện thoại.”

“Dân Do Thái đến sống ở Short Hills từ hồi nào vậy? Họ không phải Do Thái thứ thiệt tin tao đi.”

“Họ Do Thái thiệt mà.” Tôi nói.

“Chừng nào tao thấy mới tin.” Bà đưa mép tấm tạp dề lên lau mắt, ngay khi tôi kéo dây hai bên valy. “Đừng đóng vội. Tao gói cho mày một ít trái cây mang theo.”

“Được rồi, dì Gladys,” và trên đường đi làm sáng hôm đó tôi ăn trái cam và hai trái đào bà đã bỏ vào bị cho tôi.

* * *

Vài giờ sau ông Scapello thông báo với tôi rằng khi tôi đi nghỉ đợt lễ Lao động
(#2) về tôi sẽ được tống lên cái đôn của bà Martha Winney. Chính ông ta, ông ta nói, đã có một bước thăng cấp như vậy mười hai năm trước, nên có vẻ như nếu tôi có thể xoay xở giữ được thăng bằng thì một ngày nào đó tôi sẽ là ông Scapello. Tôi cũng sẽ được tăng lương tám đô, thế là tới năm đô cao hơn mức tăng mà ông Scapello nhận được nhiều năm trước. Ông ta bắt tay tôi và rồi đi trở lên đường cầu thang đá hoa dài thậm thượt, mông đít ông ta chập chờn sau vạt áo vest cứ như cái vòng rổ của môn bóng rổ. Ông ta vừa đi khỏi thì tôi ngửi thấy mùi bạc hà và ngẩng lên thấy ông già có mũi và quai hàm nổi gân đỏ.

“Chào chàng trai,” ông ta nói vui vẻ. “Cuốn sách đó trở lại chưa?”

“Sách nào?”

“Cuốn Gauguin đó. Tôi đi mua đồ và ghé vào đây hỏi thăm. Tôi vẫn chưa nhận được thẻ. Mà đã hai tuần rồi.”

“Chưa,” tôi nói, và khi đó tôi thấy ông Scapello dừng lại trên cầu thang và quay lại cứ như đã quên chưa dặn tôi điều gì đó. “Ông hiểu cho,” tôi nói với ông già, “nó sẽ trở lại đây một ngày nào đó bất kỳ.” Tôi nói với giọng chung kết đến mức gần như gắt gỏng, và tôi cảnh giác liền, vì đột nhiên tôi thấy sẽ xảy ra chuyện gì: ông già sẽ làm um sùm lên, ông Scapello từ trên cầu thang phóng xuống, ông Scappelo lục lọi các dãy kệ, Scapello phát cáu lên, Scapello tuôn trào các thứ, Scapello chủ tọa buổi đăng quang của John McKee lên chiếc đôn của bà Winney. Tôi quay sang ông già, “Sao ông không để lại số điện thoại và tôi sẽ cố đặt trước cuốn đó cho ông ngay chiều nay…” nhưng nỗ lực quan tâm và ân cần của tôi đã là quá trễ, và ông già gầm gừ những câu về bọn công chức, gửi thư cho Thị trưởng, bọn trẻ phách lối, và tạ ơn Chúa, ông ta rời thư viện đúng một giây trước khi ông Scapello trở lại chỗ tôi để nhắc tôi rằng mọi người đang góp tiền để mua quà cho bà Winney và nếu tôi muốn góp thì để lại nửa đô trên bàn ông ta trong hôm nay.

Sau bữa trưa cậu bé da đen lại tới. Khi cậu đi qua chỗ bàn tôi để tới cầu thang, tôi gọi nó. “Lại đây nè,” tôi nói. “Đi đâu vậy?”

“Khu tim.”

“Cậu đang đọc cuốn nào?”

“Thì cuốn Go-again đó. Mà tôi đâu làm gì bậy. Tôi đâu có viết gì vào sách. Ông xét tôi đi…”

“Tôi biết cậu không làm gì bậy. Nghe nè, nếu cậu thích cuốn đó như thế sao không mượn về nhà? Cậu có thẻ thư viện không?”

“Không, tôi đâu có mượn gì.”

“Không, thẻ thư viện là do chúng tôi cấp để cậu mượn sách về nhà. Như thế cậu khỏi phải tới đây mỗi ngày. Cậu có đi học không?”

“Có chứ. Trường Miller Street. Nhưng đang nghỉ hè mà. Tôi không tới trường đâu có sao. Đâu ai bắt tôi phải tới trường lúc này.”

“Tôi biết. Miễn còn đi học là có thể làm thẻ thư viện. Cậu có thể mượn sách về nhà.”

“Sao ông cứ xúi tôi mang sách về nhà hoài vậy? Ở nhà thế nào cũng có đứa làm hư sách.”

“Thì cậu giấu ở đâu đó, trong hộc bàn…”

“Trời trời,” nó nói, liếc mắt nhìn tôi, “sao ông không muốn tôi tới đây?”

“Tôi đâu có nói là cậu đừng tới đây.”

“Tôi thích tới đây. Tôi thích mấy cái cầu thang.”

“Tôi cũng thích vậy,” tôi nói. “Nhưng rắc rối là sẽ có người mượn cuốn đó về nhà.”

Cậu ta mỉm cười. “Đừng lo,” nó nói với tôi. “Tới giờ vẫn đâu có ai mượn,” rồi nó đi lộp cộp lên cầu thang tới Dãy Ba.

Vậy mà bữa đó tôi đổ mồ hôi! Đó là ngày mát nhất trong mùa hè, nhưng khi rời chỗ làm vào buổi tối lưng áo tôi đã dính sát vào da. Trong xe tôi mở túi đồ, và trong khi dòng xe cộ giờ cao điểm ồ ạt trên dường Washington, tôi chúi vào băng sau thay một cái áo sạch để khi đến Short Hills tôi trông cũng có vẻ đáng được hưởng một đợt xả hơi ở ngoại ô. Nhưng chạy xe theo đại lộ Central tôi không thể nghĩ gì về kỳ nghỉ của mình, và do đó không tập trung được vào việc lái xe: trước sự bực bội của người đi bộ cũng như người lái xe khác, tôi quậy cần số, lấn vào đường của người đi bộ, chần chừ ở đèn xanh cũng như đèn đỏ. Tôi cứ nghĩ rằng trong khi tôi đi nghỉ tay già quai hàm bự sẽ trở lại thư viện, rồi cuốn sách của cậu bé da đen sẽ bị mượn mất, rằng tôi sẽ mất chỗ làm mới của mình, thực ra là chỗ làm cũ – nhưng sao tôi lại phải ưu tư về tất cả những chuyện đó: thư viện đâu phải sự nghiệp một đời của tôi.



Chú thích:



(1-)Tác giả chơi chữ. Neil nói, “I’m a liver” với liver nghĩa là người (chỉ biết) sống, sau khi anh ta nói “I’m not a planner”. Nhưng liver còn có nghĩa là lá gan. Và Brenda nói, “I’m a pancreas,” (Em là tụy tạng) để đùa chữ liver. Vụ này chuyển ngữ không nổi, nên đành dịch tạm như trên.

(2-)Lễ Lao động ở Mỹ được tổ chức vào ngày thứ Hai đầu tiên của tháng Chín, chứ không phải vào ngày 1 tháng 5 như ở Việt Nam.

Phần sau Xem nhanh: