Cỡ chữ: Vừa | Lớn | Lớn hơn

Biểu Tượng Thất Truyền

Dan Brown

Xem nhanh:

Phần 1



Cuốn sách này là một tác phẩm hư cấu. Các tên gọi, nhân vật, tổ chức, địa danh, sự kiện trong cuốn sách này là giả tưởng và bất kỳ sự trùng khớp nào với người thật, đang sống hay đã chết đều hoàn toàn là sự trùng hợp ngẫu nhiên.Sống trên thế giới mà không có ý thức về ý nghĩa của thế giới giống như là lang thang trong một thư viện rộng lớn mà không hề chạm tay vào một cuốn sách nào.

Những giáo điều bí mật của mọi thời đại

SỰ THẬT

Năm 1991, một tài liệu được khoá chặt trong két an toàn của Giám đốc Cơ quan Tình báo Trung ương Hoa Kỳ (CIA). Tài liệu hiện vẫn ở nguyên tại đó. Nội dung khó hiểu của nó có nhắc đến một cái cổng cổ xưa và một vị trí chưa biết đến dưới lòng đất. Tài liệu còn có một câu "Nó được chôn giấu đâu đó ngoài kia".

Tất cả các tổ chức trong cuốn tiểu thuyết này đều có thật, kể cả Hội Tam điểm. Đại học Vô hình (Invisible College), Phòng An ninh, SMSC, và Học viện Khoa học Tinh thần (Institute of Noetic Sciences).Tất cả các nghi thức, khoa học, tác phẩm nghệ thuật và các cách đo đạc trong cuốn tiểu thuyết này là có thật.

Phần mở đầuThánh viện Hội Tam điểm 8 giờ 33 phút tối.Chết như thế nào là một điều bí ẩn.

Từ thuở khai thiên lập địa tới nay, chết như thế nào vẫn luôn luôn là một điều bí ẩn.Kẻ nhập môn, 34 tuổi, đăm đăm nhìn xuống cái sọ người nằm gọn trên lòng bàn tay mình. Cái sọ đã được khoét rỗng như cái bát, đựng đầy một thứ rượu vang màu đỏ máu.Uống đi, gã tự nhủ. Mày đâu có gì phải sợ.

Theo truyền thống, gã bắt đầu cuộc hành trình trong trang phục nghi lễ mà các tín đồ dị giáo thời Trung cổ vẫn mặc khi bị dẫn tới giá treo cổ. Chiếc áo rộng lùng thùng phơi ra bộ ngực xanh xao của gã, ống quần bên trái xắn lên đầu gối, còn ống tay phải vén tới tận khuỷu. Cổ gã tròng một sợi thòng lọng nặng trịch - hay sợi "cáp tàu kéo", theo cách gọi của thành viên trong hội. Tuy nhiên đêm nay, gã phục sức như một vị huynh trưởng, tương tự các đồng đạo đang có mặt để làm chứng.Các đồng đạo tụ tập quanh gã đều chải chuốt trong lễ phục đầy đủ của mình, gồm tạp dề bằng da cừu non, khăn quàng vai và găng tay trắng, trên cổ là những trang sức nghi lễ nhấp nháy một cách ma quái dưới ánh sáng lù mù. Nhiều người trong số họ nắm giữ những vị trí quan trọng ngoài đời, nhưng kẻ nhập môn biết rằng địa vị thế tục ấy chẳng có ý nghĩa gì giữa bốn bức tường này. Ở đây, tất cả mọi người đều bình đẳng, đều đã thề nguyện làm anh em và gắn bó với nhau nhờ một mối giao ước huyền bí.Vừa đưa mắt thăm dò đám người xung quanh, kẻ nhập môn vừa tự hỏi, ở thế giới bên ngoài, ai mà ngờ được rằng những nhân vật kia lại có lúc cùng tập hợp ở một nơi... nhất là một nơi như thế này. Trông căn phòng chẳng khác nào một thánh điện sót lại từ thời viễn cổ.Tuy nhiên, sự thật còn lạ lùng hơn nữa.Ta chỉ cách Nhà Trắng có vài dãy nhà.

Toạ lạc ở số 1733 phố 16 Tây Bắc. Washington D.C. khu dinh thự đồ sộ này là phiên bản của đền Mausolus, một đền thờ từ thời tiền Công giáo, Ban đầu nó là một lăng mộ... dùng để chôn người chết. Ở lối vào chính có hai cánh cửa bằng đồng, do hai pho tượng nhân sư, nặng mười bảy tấn canh gác: Bên trong là một mê cung tráng lệ gom các phòng hành lễ, đại sảnh, hầm chứa gắn niêm phong, thư viện và còn nguyên một bức tường rỗng chứa hai bộ hài cốt người. Kẻ nhập môn nghe nói tất cả các phòng trong toà nhà này đều ẩn chứa những bí mật, nhưng gã chưa được đặt chân vào chỗ nào bí mật hơn Phòng Thánh lễ, chính là căn phòng rộng thênh thang, nơi gã đang quỳ gối với cái đầu lâu nằm gọn trên tay đây. Phòng Thánh lễ vuông vức đến hoàn hảo, và hun hút như một cái hang. Trần nhà được đẩy lên đến tận độ cao 30 mét và ngự trên những cột chống bằng đá hoa cương xanh nguyên khối. Quây tròn quanh phòng là một hành lang dài giật cấp với nhiều ghế ngồi tối màu bằng gỗ hồ đào Nga bọc da lợn chế tác theo lối thủ công. Một chiếc ngai cao 9.9 mét nổi lên lừng lững ở mặt tường phía tây, đối diện với nó là bộ đàn ống ẩn kín. Các bức tường đều vẽ chi chít những biểu tượng cổ xưa, về Ai Cập, Do Thái, về thiên văn, giả kim, và rất nhiều ký hiệu lạ lùng chưa ai biết tới. Đêm nay, Phòng Thánh lễ được thắp sáng bằng những ngọn nến bố trí theo một trật tự riêng. Quầng sáng lờ mờ của chúng chỉ được hỗ trợ thêm bằng cột ánh trăng nhợt nhạt lọt qua mắt vòm trần rọi thẳng xuống vị trí trung tâm, xuống điểm đáng chú ý nhất trong gian phòng hình vuông - đó là chiếc bàn thờ khổng lồ đẽo từ một khối cẩm thạch Bỉ đen bóng.Cái chết là một điều bí ẩn, kẻ nhập môn nhẩm lại.- Đến giờ rồi, - ai đó thì thầm.Kẻ nhập môn ngước mắt lên. Một dáng người đường bệ khoác áo choàng trắng xuất hiện trước mặt gã. Đại Huynh trưởng. Giàu có, tráng kiện và rất được công chúng yêu mến, người đàn ông gần 60 tuổi này là một biểu tượng của nước Mỹ. Mái tóc có thời đen nhánh giờ đã ngả bạc, gương mặt nổi tiếng phản ánh một cuộc đời quyền uy và một trí tuệ siêu phàm.- Hãy tuyên thệ đi, - Đại Huynh trưởng lên tiếng, giọng êm như ru - Hãy hoàn tất hành trình của đạo hữu.Cũng giống như các hành trình khác, kẻ nhập môn phải bắt đầu con đường của mình ở cấp độ thấp nhất. Một đêm nọ, trong một nghi thức tương tự thế này, Đại Huynh trưởng đã bịt mắt gã bằng một băng vải nhung và ấn lưỡi dao găm hành lễ vào bộ ngực trần của gã, rồi hỏi:- Ngươi có dám thề danh dự rằng ngươi tự ao và tự nguyện hiến mình làm ứng viên cho các đặc quyền cũng như những bí ẩn của Hội, không nhằm trục lợi hay vì bất kỳ động cơ hèn hạ nào khác không?- Tôi xin thề, - kẻ nhập môn nói dối.- Vậy hãy khắc cốt ghi tâm. - Huynh trưởng cảnh cáo - rằng nếu ngươi dám tiết lộ những điều bí mật mà chúng ta chia sẻ cho ngươi, thì ngươi sẽ chết ngay lập tức.Lúc đó, kẻ nhập môn không hề sợ hãi.Bọn họ sẽ chẳng bao giờ biết được mục đích thật sự của ta.

Nhưng đêm nay, gã e ngại trước không khí trang nghiêm bất thường của Phòng Thánh lễ, và bắt đầu điểm lại trong óc tất cả những lời cảnh báo đã được nghe suốt dọc hành trình, rồi những lời đe doạ về các hậu quả khủng khiếp nếu gã tiết lộ những bí mật cổ xưa mà gã sắp được biết: Đâm ngang họng... rút lưỡi... moi ruột và đốt... vãi tro than theo gió... móc tim và vứt cho lũ thú hoang...

- Huynh đệ của ta, - vị Huynh trưởng có đôi mắt xám đặt tay trái lên vai kẻ nhập môn và nói - Hãy tuyên đọc lời thề cuối cùng đi.Lấy lại tinh thần để hoàn tất bước sau cùng của hành trình, kẻ nhập môn thả lỏng cơ bắp và lại tập trung chú ý vào cái sọ người nằm trên tay. Thứ rượu vang đỏ thẫm trông gần như đen kịt trong ánh nến tù mù. Gian phòng chìm vào sự im lặng chết chóc, và gã có thể cảm nhận được ánh mắt của các chứng nhân, họ đang chờ ứng viên mới tuyên đọc lời thề cuối cùng và gia nhập hàng ngũ tinh tuý của mình.Đêm nay, gã nghĩ, một điều gì đó chưa từng diễn ra trong lịch sử Hội, chưa từng diễn ra suốt mấy trăm năm qua, sẽ diễn ra giữa bốn bức tường này.

Gã biết đó là một tia lửa... và nó sẽ đem lại cho gã sức mạnh khôn cùng. Như được tiếp thêm sinh lực, gã hít một hơi và xướng to đúng những lời mà biết bao con người trên khắp thế giới đã từng tuyên đọc trước gã.- Nếu tôi cố tình vi phạm lời thề, thì thứ rượu tôi sắp uống đây sẽ biến thành thuốc độc giết chết tôi.Lời gã vang vọng trong không gian trống trải.Rồi tất cả im ắng.Rất vững vàng, kẻ nhập môn từ từ nâng cái sọ lên miệng. Khi cảm thầy môi mình chạm vào vỏ xương khô, gã nhắm mắt và nghiêng nó về phía miệng mình, uống những ngụm thật to. Cạn xong giọt cuối cùng, gã hạ cái sọ người xuống.Trong một tích tắc, gã tưởng chừng phổi mình thắt lại, còn tim thì đập thình thịch. Lạy Chúa, họ biết ư? Song trạng thái ấy mau chóng qua đi, mau y như lúc mới xuất hiện.Tiếp đó, cảm giác ấm áp dễ chịu bắt đầu lan toả khắp cơ thể gã. Kẻ nhập môn thở phào, vừa cười thầm vừa ngước lên nhìn người đàn ông có đôi mắt xám. Không mảy may nghi ngờ. Ông ta đã ngu ngốc tiếp nhận gã vào đẳng cấp bí mật nhất của hội ái hữu này.Chẳng bao lâu nữa, các người sẽ mất hết mọi thứ mà bấy nay các người ra công gìn giữ. *****Chương 1

Chiếc thang máy hiệu Otis chất đầy du khách đang lừ lừ chạy lên trụ phía nam của Tháp Eiffel. Trong cái khoang chật cứng, một doanh nhân khắc khổ vận bộ đồ là phẳng phiu đăm đăm nhìn xuống cậu bé đứng bên cạnh.

- Trông con nhợt nhạt lắm, con trai ạ. Lẽ ra con nên ở lại bên dưới thì hơn.

- Con ổn mà... - cậu bé trả lời, cố gắng kiềm chế nỗi lo lắng của mình - Đến tầng tới, con sẽ ra.

Mình ngạt thở quá.

Người đàn ông cúi xuống gần hơn.

- Ba cứ nghĩ là con đã trị được cái chứng ấy rồi cơ đấy - ông ta âu yếm vuốt má con trai.

Mặc dù xấu hổ vì làm cha thất vọng, cậu bé vẫn không sao xua đi được tiếng ong ong trong tai.

Mình ngạt thở quá. Mình phải thoát ra khỏi cái bao diêm này.

Nhân viên điều khiển thang máy đang cam đoan gì đó về các van đẩy có khớp nối và kết cấu thép. Xa tít phía dưới họ, đường phố Paris toả ra mọi hướng.

Đến kia rồi, cậu bé tự nhủ, nghển cổ nhìn lên chỗ trả khách.

Gắng chịu đứng một chút nữa thôi.

Khi chiếc thang máy rẽ chếch lên khu vực ngắm cảnh phía trên, thân tháp bắt đầu thu hẹp, các thanh giằng đồ sộ của tháp co cụm lại thành một đường hầm thẳng đứng.

- Ba, con không nghĩ...

Đột nhiên, có tiếng ken két vang lên trên đầu họ. Khoang thang máy giật mạnh rồi nghiêng hẳn về một bên. Những sợi cáp sờn bắt đầu quấn lại quanh khoang và quẫy đùng đùng như những con rắn.

- Cậu bé vươn tay về phía cha.

- Ba ơi!

Mắt hai cha con gặp nhau trong một giây kinh hoàng.

Rồi đáy thang máy bung ra.

***

Robert Langdon vùng dậy trên chiếc ghế da mềm, choàng tỉnh khỏi giấc mơ chập chờn. Chỉ có mình anh trong khoang hành khách rộng rãi. Chiếc phản lực Falcon 2000EX đang xóc nảy do thời tiết xấu, dưới bụng nó, động cơ đôi Pratt & Whitney vẫn kêu đều đều.

- Thưa ông Langdon? - tiếng điện đàm vang lên loạt xoạt trên trần - Chúng ta đã đến chặng cuối.

Langdon ngồi thẳng dậy và nhét gọn tập bài giảng vào cặp da.

Anh đã rơi vào trạng thái mơ màng đúng lúc đang xem dở phần biểu tượng của Hội Tam điểm. Langdon ngờ rằng chính lời mời bất ngờ lúc sáng ngày của Peter Solomon đã khơi gợi giấc mơ ban nãy về người cha quá cố của anh.

Peter Solomon từng là thầy hướng dẫn của Langdon trong một thời gian dài. Là người thứ hai mình không bao giờ muốn làm thất vọng.

Nhà phúc thiện, sử gia kiêm khoa học gia 58 tuổi ấy đã che chở Langdon gần ba mươi năm về trước, và bằng nhiều cách đã lấp đầy khoảng trống do cái chết của cha anh để lại. Mặc dù giàu sang tột đỉnh và xuất thân từ một gia tộc nhiều thế lực. Solomon vẫn rất khiêm nhường và nồng hậu, như Langdon nhận thấy qua đôi mắt xám dịu dàng của ông.

Bên ngoài cửa sổ, mặt trời đã lặn, nhưng Langdon vẫn phân biệt được đường nét thanh mảnh của tháp tưởng niệm lớn nhất thế giới đang vươn lên phía chân trời như kim chỉ giờ của một chiếc đồng hồ mặt trời cổ xưa. Tháp tưởng niệm lát đá cẩm thạch cao 170 mét này là tiêu điểm ở trái tim của cả liên bang. Từ ngọn tháp ấy toả rộng ra các hướng là tấm hình hoạ chi tiết vô vàn đường phố và tượng đài.

Ở Washington D.C., chỉ không khí thôi đã toát ra một sức mạnh gần như huyền bí.

Langdon rất yêu thành phố này. Khi máy bay tiếp đất, niềm hưng phấn về những điều sắp tới bỗng trào dâng trong anh. Máy bay lướt đến một nhà ga riêng ở khu vực nào đó trong khuôn viên mênh mông của sân bay quốc tế Dulles rồi dừng hẳn lại.

Langdon thu thập hành lý, cảm ơn phi hành đoàn và rời khỏi chiếc máy bay sang trọng. Anh bước ra cầu thang gấp, cảm giác thật thoải mái trong làn không khí lạnh giá tháng Giêng.

Hít thở đi! Robert, Langdon nghĩ thầm và khoan khoái tận hưởng không gian thoáng đãng.

Sương trắng trải khắp đường băng. Langdon bước xuống nền nhựa mù sương mà tưởng như mình đang tiến vào một khu đầm lầy.

- Xin chào! Xin chào! - ai đó cất tiếng gọi từ bên kia đường băng, giọng Ăng-lê đơn điệu - Giáo sư Langdon phải không ạ?

Langdon trông lên. Một phụ nữ trung tuổi đeo phù hiệu và cầm cặp hồ sơ đang vội vã tiến lại phía anh, mái tóc vàng loăn quăn xòe ra dưới chiếc mũ len rất kiểu cách. Langdon tới gần, người phụ nữ hân hoan vẫy tay.

- Chào mừng ông tới Washington!

- Cảm ơn cô - Langdon mỉm cười.

- Tôi là Pam, thuộc tổ dịch vụ hành khách - Người phụ nữ nói với vẻ hồ hởi không giấu giếm - Mời ông đi theo tôi, xe của ông đang đợi sẵn.

Langdon băng qua đường, theo người phụ nữ đi về phía bãi chờ xe, quanh đấy la liệt những chiếc phi cơ riêng bóng lộn. Chỗ đậu taxi của đám người giàu có và nổi tiếng.

- Tôi thật không muốn làm phiền ông, thưa Giáo sư, - người phụ nữ nói, nghe có phần bẽn lẽn - nhưng ông chính là Robert Langdon, từng viết nhiều cuốn sách về các biểu tượng và tôn giáo, phải không ạ?

Langdon lưỡng lự đôi chút rồi gật đầu.

- Tôi đoán chẳng sai mà! - Pam nói, vẻ rạng rỡ - Nhóm đọc sách của tôi đã đọc cuốn sách về tính nữ thiêng liêng và nhà thờ của ông đấy! Cuốn sách đã làm dấy lên vô khối điều tiếng! Ông thích vẽ đường cho hươu chạy thật!

Langdon mỉm cười.

- Tôi không định gây ra tai tiếng gì đâu.

Dường như cảm nhận được rằng Langdon không có hứng thảo luận về tác phẩm của mình, người phụ nữ bèn nói:

- Xin lỗi vì đã bắt ông nghe những lời huyên thuyên. Tôi biết, chắc ông phát mệt vì cứ bị người ta nhận ra... nhưng đó là lỗi của chính ông - Pam hài hước ra dấu về phục sức của Langdon - Bộ đồng phục này tố cáo ông đấy.

Đồng phục này ư? Langdon liếc xuống quần áo của mình. Anh đang mặc chiếc áo len cổ lọ màu than mọi khi, cùng với áo khoác tuýt hiệu Harris, quần ka ki và đôi giày lười da mềm mà các sinh viên hay mang... chính là kiểu phục trang chuẩn mực của anh khi lên lớp, đi lưu giảng, chụp ảnh tác giả sách hay tham gia các hoạt động xã hội.

Người phụ nữ bật cười:

- Cái áo len cổ lọ quá lỗi mốt rồi. Trông ông sẽ bảnh bao hơn nếu đeo cà vạt!

Không đời nào, Langdon nghĩ bụng. Khác gì mấy cái thòng lọng.

Thời Langdon còn ở Học viện Phillips Exeter, nhà trường yêu cầu sinh viên phải đeo cà vạt sáu ngày một tuần và mặc dù ông hiệu trưởng lý giải rất lãng mạn rằng cà vạt có nguồn gốc từ thời các nhà hùng biện La Mã quàng lụa fascalia để giữ ấm dây thanh quản, nhưng Langdon thừa biết, về mặt từ nguyên, tiền thân của cà vạt là thứ khăn quàng cổ thắt nút mà một nhóm lính đánh thuê hung bạo người "Croat" thường đeo khi lâm trận. Ngày nay, các chiến binh văn phòng hiện đại đeo loại phụ kiện cổ xưa này với hy vọng đe doạ kẻ thù của họ trong các trận chiến họp hành thường nhật.

- Rất cảm ơn lời khuyên của cô - Langdon nói và cười khùng khục - Sắp tới tôi sẽ tìm một chiếc cà vạt vậy.

Bấy giờ, một người đàn ông trông rất chuyên nghiệp vận bộ đồ sẫm màu chui ra khỏi chiếc Lincoln Town Car bóng loáng đỗ gần nhà ga và giơ ngón tay lên.

- Ông Langdon phải không? Tôi là Chárles, hãng xe Beltway Limousine - Anh ta mở cửa bên - Chúc ông một buổi tối tốt lành. Chào mừng ông tới Washington.

Langdon đưa tiền boa cho Pam để cảm ơn thái độ niềm nở của cô rồi bước lên khoang xe sang trọng của chiếc Town Car. Người lái xe chỉ cho anh bảng điều khiển nhiệt độ, nước đóng chai, và giỏ bánh xốp nướng còn nóng hổi. Mấy giây sau, Langdon đã lao vun vút trên một tuyến đường riêng. Ra là giới thương lưu người ta sống kiểu này đây.

Khi lái xe vào đường Windsock, người tài xế kiểm tra lại tên hành khách của mình rồi gọi một cú điện ngắn.

- Beltway Limousine đây, - anh ta nói với giọng rất chuyên nghiệp - Tôi được yêu cầu xác nhận khi hành khách tới nơi - anh ta ngừng lại - Vâng, thưa ngài. Ông Langdon khách của ngài đã đến. Tôi sẽ đưa ông ấy tới nhà Quốc hội lúc 7 giờ tối. Rất hân hạnh, thưa ngài - anh ta gác máy.

Langdon mỉm cười. Không thể chê vào đâu được. Chú ý đến từng chi tiết là một trong những tư chất đáng nói nhất của Peter Solomon, nhờ nó mà ông dễ dàng điều khiển được quyền lực lớn lao của mình.

Vài tỷ đô la trong nhà băng cũng chẳng nhằm nhò gì.

Langdon ổn định tư thế trong chiếc ghế da sang trọng và nhắm mắt lại trong khi tiếng ồn ào của sân bay loãng dần phía sau. Còn nửa tiếng đồng hồ đi xe nữa mới đến toà nhà Quốc hội Hoa Kỳ, và anh rất mừng vì được tự do trong khoảng thời gian ấy để sắp xếp lại những suy nghĩ của mình. Ngày hôm nay, mọi chuyện diễn ra quá nhanh, tới giờ Langdon mới rảnh trí để suy nghĩ một cách nghiêm túc về buổi tối lạ lùng đang chờ đợi mình.

Xuất hiện dưới lốt bí mật. Langdon nghĩ, thích thú với viễn cảnh đó.

Cách toà nhà Quốc hội mười dặm, có một nhân vật đang sốt ruột chuẩn bị để đón tiếp anh.
Phần sau Xem nhanh: