Cỡ chữ: Vừa | Lớn | Lớn hơn

Uống trà và thú vui uống trà

Lương Văn Hồng

Xem nhanh:

Uống trà

Việt Nam nằm trong vùng gió mùa Đông Nam Á, cái nôi của cây chè. Khí hậu đất đai rất thích hợp với sinh trưởng cây chè. Giống chè bản địa gồm 2 giống Trung DuShan, đặc biệt giống chè Shan miền núi có búp nhiều lông tuyết trắng, được thị trường quốc tế rất ưa chuộng. Lê Quý Đôn trong sách Vân Đài loại ngữ (1773) có ghi:" ... Cây chè đã có ở mấy ngọn núi Am Thiên, Am Giới và Am Các, huyện Ngọc Sơn, tỉnh Thanh Hoá, mọc xanh um đầy rừng, thổ nhân hái lá chè đem về giã nát ra, phơi trong râm, khi khô đem nấu nước uống, tính hơi hàn, uống vào mát tim phổi, giải khát, ngủ ngon. Hoa và nhị chè càng tốt, có hương thơm tự nhiên...",  ở vùng Suối Giàng (Văn Chấn-Nghĩa Lộ-Yên Bái), trên độ cao 1.000 mét so với mặt biển, có một vùng chè hoang khoảng 40.000 cây chè dại, trong đó có một cây chè cổ thụ lớn nhất, ba người ôm không xuể.” Năm 1923, các nhà khoa học Pháp và Hà Lan khảo sát rừng chè cổ ở tỉnh Hà Giang Việt Nam. Suối Giàng, Nghĩa Lộ, Lạng Sơn, Nghệ An là các vùng chè cổ Việt Nam. Các học giả Tây phương vẫn cho rằng Trung Hoa là nơi phát xuất cây trà. Thế nhưng không phải cây trà chỉ mọc hoang trong vùng nam nước Trung Hoa mà có khắp vùng Đông Nam Á. Thành thử Việt Nam ta cũng là quê hương của cây trà, và cũng có những cây trà cổ thụ. Cách uống trà kiểu Việt Nam vẫn giữ nguyên hình thái mộc mạc chứ không cầu kỳ như người Trung Hoa.  

Việt Nam đã có tập quán uống trà từ lâu đời và nó chiếm một vai trò nhất định trong đời sống xã hội. Đến thế kỷ thứ 18, trà là hàng hóa thông dụng khắp Việt Nam khắp hang cùng ngỏ hẻm ngay trong vùng đất mới như miền Nam. Văn hóa trà Việt Nam chịu ảnh hưởng của sự “thanh thoát và hướng tự nhiên” ở dân tộc Bách Việt của vùng Hoa Nam nhiều hơn là phong cách “luân thường Khổng gia” của trà pháp Hoa Bắc. Tục uống trà ở Việt Nam rất phong phú. Từ cách uống cầu kỳ cổ xưa đến cách uống bình dân.  Người Việt xưa còn có tổ chức các hội trà. Khắp nơi trên đất Việt, người ta tôn vinh trà. Thưởng trà đầu xuân là thói quen của các bậc tao nhân chốn kinh thành xưa kia. Sáng mồng một, con cháu dành riêng cho cụ những giây phút đầu tiên để tịnh tâm và ngắm hoa thưởng trà. Ở nông thôn, người bình dân hay uống trà xanh. Đó là những lá chè tươi, rửa sạch, hãm trong nước sôi sủi tăm cá, nước trà thơm dịu, xanh ngắt. Uống trà bằng bát sành.

Người Việt Nam hiện nay uống chủ yếu là trà xanh sơ chế mà người đời thường gọi là trà mộctrà sao suốt hay trà móc câu. Gọi là trà móc câu vì cánh trà sao quăn giống hình chiếc móc câu.

 

Trà móc câu Thái Nguyên

Trà móc câu Thái Nguyên

 

Ca dao có câu:

"Làm trai biết đánh tổ tôm

Uống trà mạn hảo, ngâm nôm Thúy Kiều"

nói về cái thú vui thanh tao - thưởng thức damh trà Mạn Hảo và tự ngẫu nhân tình thế thái qua ngâm nôm Thúy Kiều của tầng lớp nho sĩ, trí thức, quan lại và hoàng tộc trong xã hội Việt Nam.

Vào cuối thế kỷ 17, tộc trưởng người Thái dâng đất cho Trung Hoa. Chúa Trinh Cương (1709-1729) đã kiên quyết đòi nhà Thanh trả lại. Năm 1728 triều đình Thanh trả lại cho Đại Việt một phần đất từ vùng mỏ Tụ Long đến sông Lô. Theo hòa ước Pháp – Thanh ký năm 1885, tháng 7-1886, hai bên mới cử ủy viên đại diện lên Bảo Thắng (Lao Kay) phân định biên giới giữa Bắc kỳ và Vân Nam. Ngay sau đó, “…Nước Thanh đã tổ chức khai trương thành phố Mạn Hảo tỉnh Vân Nam”. Chính từ thời điểm ấy, địa danh Mạn Hảo chính thức rời khỏi lãnh thổ Viêt.

Hà Nội, Huế, Sài Gòn là ba thành phố của Bắc Trung Nam, nhưng mỗi nơi một khác. Uống trà phải nói tới Hà Nội, nơi đây có tới 10.000 nơi bán chè chén (trà mộc) vỉa hè, nhưng Sài Gòn Huế là nơi người bình dân uống cà phê ở quán cóc. Người ở Hà Nội uống trà rất đậm. (Ai yếu tim thì không nên uống, vì uống xong là cảm thấy say xẩm, tim đập, loạn nhịp tim.)

Trà Thái Nguyên là loại trà được người Hà Nội ưa chuộng nhất. Số lượng người uống trà ở Hà Nội rất đông, gấp nhiều lần so với ở TP. Hồ Chí Minh Năm 1970 ở Hà Nội có 7.000 nơi bán chè chén thì nay tới 10.000 nơi bán chè chén, gọi là nơi vì không có đăng ký kinh doanh, chỉ là tự phát, tiện đâu bán đó, kiếm chút tiền trang trải kinh tế gia đình. Người Hà Nội bán chè chén rất thân thiện, tiện dừng chân ven đường ai uống cứ tự nhiên như người Hà Nội, không mời chào, thản nhiên nhận trà nóng uống, rồi thản nhiên trả tiền, thản nhiên lặng lẽ đi, nếu có thời gian thì trò chuyện trời đất mây gió tứ phương. Chất lượng chè chén đâu cũng thế: trà ngon, đậm đặc. Chưa có thống kê cà phê quán cóc ở Huế, Sài Gòn, nhiều, nhiều lắm, cứ đợi thống kê sẽ biết là bao nhiêu, nhưng muốn uống, muốn trả tiền thì gọi vì nó là dịch vụ, có chỗ ta có thể điện thoại tới để gọi cà phê mang tới. Chất lượng cà phê quán cóc là chất lượng cà phê bắp rang, đâu cũng vậy.

Phần sau Xem nhanh: