Cỡ chữ: Vừa | Lớn | Lớn hơn

Nguyễn Mạnh Tường và những học trò (1909 - 1997)

Lương Văn Hồng

GS. Luật sư Nguyễn Mạnh Tường

Nguyễn Mạnh Tường là luật sư, nhà giáo, nhà nghiên cứu văn học Việt Nam. Năm 23 tuổi (1932), ông đỗ liên tiếp hai bằng Tiến sĩ tại Pháp, được khen ngợi là một tài năng diễn giảng văn học hiếm có. Ông trở thành  hình tuợng mà thế hệ từng học ông kính nể.

Nguyễn Mạnh Tường sinh ngày 16 tháng 9 năm 1909 tại phố Hàng Đào, Hà Nội, nhưng quê quán ông lại là làng Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, Hà nội. Cha ông là Nguyễn Căn Cát, công chức. Ông học tiếng Pháp từ nhỏ, trước học trường Paul Bert, sau học trường Albert Sarraut, Hà Nội.

Năm 1926, ông đỗ Tú tài triết học (16 tuổi), hạng ưu, được học bổng sang Pháp học Luật và Văn chương tại Trường đại học Tổng hợp Montpellier (1927). Năm 1929, ông đỗ Cử nhânvăn chương, và năm sau đỗ Cử nhân Luật (1930)[2]. Ông dự định thi tuyển Thạc sĩ (concours d'Agrégé) để dạy học, nhưng vì quốc tịch Việt Nam nên không được thi. Sau đó, ông sửa soạn làm luận án Tiến sĩ quốc gia (doctorat d'état). Trong thời gian làm luận án, ông thực tập luật sư tại toà Phúc thẩm Montpellier.

Tháng 5 năm 1932, ông bảo vệ luận án Tiến sĩ Luật, với luận án chính: L'Individu dans la vieille cité annamite (Cá nhân trong xã hội Việt Nam cổ) và luận án bổ túc: Essai de synthèse sur le Code de Lê (Tổng luận về luật đời Lê). Tháng 6 năm 1932, ông bảo vệ luận án tiến sĩ văn chương với luận án chính: Essai sur la valeur dramatique du théâtre d'Alfred de Musset(Giá trị bi kịch trong tuồng của A. Musset) và luận án bổ túc: L'Annam dans la littérature française, Jules Boissières (Việt Nam trong các tác phẩm của Jules Boissières ngày 29 tháng 5 năm 1932, nhật báo Le petit Meridional xuất bản ở thành phố Montpellier đã đăng bài diễn văn của Chủ tịch Hội đồng giám khảo trường Đại học của thành phố, nhận xét về luận án của một nghiên cứu sinh Việt Nam, trong đó có câu mang tính ngoại lệ: "Luận văn của Ngài quả là một tác phẩm pháp lý, hơn nữa còn là một tác phẩm pháp lý và văn học. Nền tảng của tác phẩm thật là vững vàng và không hề có một lời chỉ trích nào. Cả hình thức cũng thật xán lạn... Công trình nghiên cứu của Ngài thực sự là một tác phẩm văn học hoàn chỉnh".... Kể từ khi có học vị này người Pháp  cũng chưa một ai mới ở tuổi 23 đã giật được "lưỡng khoa Tiến sĩ”

Tháng 9 năm 1932, ông về nước Ở nhà được khoảng ba tháng, ông trở lại Pháp. Mấy năm sau đó, ông đi du lịch và nghiên cứu các nước châu Âu: Tây Ban Nha, Ý, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập,... Trong khoảng thời gian này ông viết được bốn cuốn sách bằng tiếng Pháp.

“Thời gian hạnh phúc của đời” Nguyễn Mạnh Tường là thời gian dạy văn chương Pháp ở trường Bảo hộ (Lycée du Prétectorat, tức trường Bưởi, sau này là Chu Văn An) và trường Cao đẳng Công Chánh ((Ecole Supérieure des Travaux Publics). Trong khoảng thời gian này, ông học thêm chữ nho và văn chương cổ điển Việt, tham gia phác họa cuốn Việt Nam Văn Phạm (với nhóm Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim), hợp tác làm Việt Nam tự điển (với nhóm Khai Trí Tiến Đức), và còn làm phụ tá cho Thị trưởng Hà Nội.

Năm 1940, Pháp thua trận, Nhật Bản đưa quân vào Đông Dương. Họ muốn ông Tường từ chối tham gia Hội đồng vận động nông dân bán lúa gạo cho Nhật, ông từ chối nên bị  Nhật gây khó khăn. Sau đó, ông nộp đơn xin từ chức, ra mở văn phòng luật sư ở phố Gambetta (nay là phố Trần Hưng Đạo), Hà Nội. Sau Cách mạng tháng Tám (1945), Trường Đại học Văn Khoa được thành lập, Nguyễn Mạnh Tường được cử dạy Khoa Văn chương Phương Tây.

Tháng 4 năm 1946, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh cử vào phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dự Hội nghị trù bị Đà Lạt. Năm 1946  toàn quốc kháng chiến bùng nổ. Sau đó, ông lên Việt khu Việt Bắc, rồi vào Liên khu III và IV, được cử làm Luật sư tại các Tòa án quân sự, Tòa án đại hình và  là thành viên Ban Giám đốc Trường dự bị đại học.

Năm 1951 ông tham gia Đảng Xã hội Việt Nam.

Ngày 7 tháng 5 năm 1954, Chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi, ông về lại Hà Nội, tiếp quản trường Đại học Luật và Đại học Sư phạm, rồi được cử làm Giám đốc Đại học Luật, Phó Giám đốc Đại học Sư Phạm, và được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Luật sư Hà Nội. Cũng trong khoảng thời gian này, ông được phong Giáo sư, và tham gia giảng dạy tại các Trường đại học Văn khoa, Sư phạm, Tổng hợp Hà Nội... Sau vụ Nhân văn Giai phẩm, ông được chuyển sang làm chuyên viên nghiên cứu văn học nước ngoài tại Viện nghiên cứu phương pháp và chương trình giáo dục thuộc Bộ Giáo dục, và là cộng tác viên của nhà xuất bản Giáo dục[4]. Năm 1937, luật sư Nguyễn Mạnh Tường kết hôn với bà Tống Lệ Dung, và có ba con (một trai, hai gái): Nguyễn Tường Hưng, Nguyễn Dung Nghi và Nguyễn Dung Trang[3]

Ngày 13 tháng 6 năm 1997, Luật sư Nguyễn Mạnh Tường qua đời vì tuổi già tại nhà số 34 phố Tăng Bạt Hổ, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, thọ 88 tuổi.

 

***

                  THẦY NGUYỄN MẠNH TƯỜNG VÀ NHỮNG HỌC TRÒ

 

Năm 1989, khi Nguyễn Mạnh Tường có dịp trở lại mảnh đất nơi ông đã thành tài, Hiệu trưởng Trường ĐH Paris VII danh tiếng lại nói về Nguyễn Mạnh Tường như sau: "Đã 60 năm qua, trên đất nước Pháp này, chưa có một sinh viên Pháp hay sinh viên quốc tế nào phá được kỷ lục của Giáo sư kính mến: hai bằng Tiến sĩ nhà nước ở tuổi 22".

“Rời thành phố Huế bị Pháp tạm chiếm năm 1949 để ra vùng kháng chiến, đi dạy học trường Trung học Kháng chiến Nguyễn Chí Diểu – Lâm Mộng Quang ở Thừa Thiên, rồi được đi học trường Dự bị Đại học mở tại Liên khu IV. Hơn nửa thế kỷ sau, cậu học trò đó đã trở thành nhà giáo, nhà báo có tên tuổi: GS.NGND Trần Thanh Đạm.  Trong bài nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của thầy (16.9.1909 – 16.9.2009).

THẦY TÔI – GIÁO SƯ NGUYỄN MẠNH TƯỜNG –BAO KỶ NIỆM ĐẸP MỘT THỜI. “Ấn tượng và kỷ niệm của tôi về thầy Nguyễn Mạnh Tường rất là tốt đẹp Do trong bối cảnh (kháng chiến) như thế thì thầy dạy, trò học, nói chung với tinh thần kháng chiến, tinh thần yêu nước rất hăng hái.” Thời điểm sau Cách mạng tháng Tám 1945 rồi kháng chiến  “ Hồi bấy giờ học trò được học Dự bị Đại học với những thầy như Đặng Thai Mai, Trần Văn Giàu, Nguyễn Mạnh Tường, Trương Tửu, Đào Duy Anh… là các vị học giả nổi tiếng nên anh chị em rất phấn khởi. Tuy là học Dự bị Đại học thôi nhưng mà cũng ngang Đại học. Hồi bấy giờ điều kiện học tập cũng khó khăn, thiếu thốn và chính các thầy cũng thiếu thốn. Sách vở không có bao nhiêu, cho nên các thầy dạy là rút ruột ra chứ có tài liệu gì mấy đâu. Có được chút tài liệu nào đều được khai thác triệt để. Phải dạy theo chủ nghĩa Mác-Lênin, phải dạy theo Lý luận mới, quan điểm mới. Mà hồi bấy giờ nhiều cái rất mà mới mẻ. Dạy theo sách vở cũ, đem những Việt Nam văn học sử yếu của cụ Dương Quảng Hàm vào thì học trò không chịu học (cười). Tại vì học trò cho đấy là sản phẩm của thời thực dân phong kiến. Cho nên các thầy phải nghĩ ra nội dung và hình thức mới để dạy học. Bây giờ tôi nghĩ lại thì các ông thầy hồi bấy giờ đứng trước các vấn đề nan giải chứ không phải dễ đâu (cười).” “Đấy nói chuyện thời học văn học như thế, cả thầy cả trò cùng mò mẫm tìm tòi cái mới. Ngày nay mình cũng thương các thầy trong buổi đầu tìm đường, nhận đường gặp phải khó khăn như vậy. Càng thương thì càng phục.” Dạy Văn học phương Tây, thầy Tường ở một cái thế khó là đậu rất cao, biết rất nhiều, học rất giỏi nhưng dạy thì toàn những học trò nhà quê, Văn học phương Tây vừa xa lạ vừa cao siêu lắm… Có nhiều cái thầy dạy rất có ích với tôi sau này. tôi rất kính mộ thầy Nguyễn Mạnh Tường.”

 

Trong một thời gian ngắn, nhiều trí thức trẻ tuổi từ Pháp về nước.  Trong đó nổi tiếng nhất là Nguyễn Mạnh Tường với hai bằng Tiến sĩ Văn khoa và Luật khoa trong cùng một năm 1932 khi “ông nghè” mới 22 tuổi… Nhân Hội thảo khoa học kỷ niệm 100 năm ngày sinh GS.TS Nguyễn Mạnh Tường (1909 – 2009).   Một trong những học sinh thời bấy giờ được trực tiếp thụ giáo những ông nghè, ông cử tân khoa này là nhà báo, nhà  văn hóa Hữu Ngọc. 

“Thầy Nguyễn Mạnh Tường hơn thế hệ chúng tôi khoảng 10 tuổi.

Đợt đầu dạy trường Bưởi có các thầy: Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Xiển, Hoàng Xuân Hãn… Còn dạy bên Albert Saurraut là ông Phạm Duy Khiêm. Sau này về dạy trường Bưởi có ông Ngụy Như Kontum… Tôi học Tú tài Tây năm thứ nhất và năm thứ nhì được thầy Nguyễn Mạnh Tường dạy Văn học Pháp. Học sinh chúng tôi ngày đó thường hay so sánh thầy Nguyễn Văn Huyên với thầy Nguyễn Mạnh Tường. Hai thầy là bạn thân với nhau nhưng phong cách giảng dạy khác nhau. Thầy Nguyễn Mạnh Tường có lẽ đã làm Trạng sư nên cách phát biểu hùng hồn, không cần giấy tờ gì, nói thao thao bất tuyệt. Không có giấy tờ gì cả mà thầy nói cứ thấy như nước suối chảy. Học sinh mê cái đó. Có lẽ bản thân tôi chịu ảnh hưởng thầy Nguyễn Mạnh Tường. Sau này, tôi làm công tác đối ngoại văn hóa, trình bày các vấn đề với những người nước ngoài, hay đi dạy học... thì tôi cũng bắt chước phong cách thầy Nguyễn Mạnh Tường: Nói không có giấy tờ gì cả! Lần đầu tiên, chúng tôi được học một ông giáo sư người Việt Nam ở Pháp về, có cái nhìn rộng, thoáng... Thầy đặt ra những vấn đề có tính chất sâu sắc khiến cho chúng tôi cũng mở mang ra nhiều. Học lên ban Tú tài Triết học, tôi lại học thầy Nguyễn Mạnh Tường về Văn học hiện đại của Pháp. Nhờ được học thầy nên đầu óc tôi mở mang ra nhiều và tiếp xúc được những luồng tư tưởng hiện đại nhất của Pháp với những nhân vật như: Gide, Vaulerry, Baudel… Thầy Nguyễn Mạnh Tường đã có sức ảnh hưởng khá sâu sắc đối với học sinh nói chung và đối với riêng tôi buổi đầu. Tôi được mở mang trí tuệ một cách bao quát, sâu sắc; tiếp xúc với những vấn đề lớn của văn hóa Pháp, văn hóa phương Tây. Nhờ vậy, tôi có một cơ sở kiến thức rất vững vàng để từ đó tôi đọc thêm và phát triển thêm. Tôi rất tiếc tài năng và sự uyên bác của thầy không được "khai hoa kết quả".

 

“Cứ ngẫm kĩ, ngẫm sâu, tôi càng ngộ thêm rằng cái sức hút kì diệu của những con người tinh anh của dân tộc một khi đã gieo mầm vào trí óc tuổi trẻ thì nó là nguồn năng luợng diệu kì không bao giờ phai nhạt. Một lần gặp gỡ, một câu chuyện, một hành vi cư xử đã gây ấn tượng chứ chưa nói đến những cuộc thụ giáo trong nhiều ngày tháng với các bậc sư biểu tinh hoa của dân tộc đối với thế hệ trẻ đang khát khao học vấn, trăn trở tìm đường như lớp thanh niên học sinh kháng chiến chúng tôi lúc bấy giờ. Cứ nhớ lại các thầy là như được sống lại những ngày thanh xuân đó. Cảm giác đến với tôi khi viết về các bậc thầy Đặng Thai Mai, Hoài Thanh mấy năm trước đây, với thầy Trương Tửu gần đây, bây giờ lại bừng dậy khi nghĩ về thầy Nguyễn Mạnh Tường. Ấn tượng trong một thời điểm lịch sử và tâm thế đặc biệt, Nguyễn Mạnh Tường đến như một một ngôi sao từ nguồn ánh sáng văn minh châu Âu bay về. Ông đến với chúng tôi trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt và đã gây ngay một sức thu hút lạ kì từ buổi ban đầu được tiếp diện. Những ấn tượng về nhân cách của người trí thức chân chính luôn hướng về dân tộc, gắn mình với dân tộc, Chúng tôi hồ hởi đón tin sẽ được thụ giáo với những con người tri thức mà tên tuổi đã là niềm ngưỡng vọng từ lâu: Đặng Thai Mai, Đào Duy Anh, Cao Xuân Huy, Trần Văn Giàu, Nguyễn Bách Khoa – Trương Tửu và Nguyễn Mạnh Tuờng… Mỗi vị là một đỉnh cao với những nguồn gốc, hành trình thành đạt và kho báu tri thức không giống nhau nhưng đều lấp lánh một hào quang hấp dẫn lạ kì. Chúng tôi được đón Thầy trong thời điểm lịch sử và tâm thế đặc biệt như vậy nên những ấn tượng đẹp đẽ, tươi mới, hào hứng ban đầu ấy của tuổi thanh xuân không thể nào phai mờ được. Giờ đây vẫn tươi rói có sức lay động ghê gớm. Tư duy phản bác là phẩm chất của người khoa học chân chính. Ở Thầy tư duy phê phán và phản bác là nét phẩm chất đáng quí ở người trí thức luôn tôn trọng và bảo vệ chân lí. Ngày nay chúng ta nói dạy đại học là phải nêu vấn đề để rèn tư duy, dạy đại học là dạy phát hiện vấn đề. Muốn thế thì ông thầy phải là người luôn trăn trở tìm tòi khoa học để dẫn dắt học trò của mình. Tôi nghĩ thầy Nguyễn Mạnh Tường trong bản chất là nhà khoa học chân chính luôn biết phản kháng lại cái cũ, cái xấu, cái chưa thật tốt đẹp để vươn theo khát vọng dân chủ và nhân văn.” (GIÁO SƯ NGUYỄN MẠNH TƯỜNG VÀ CẢM XÚC THỜI THANH XUÂN CỦA TÔI, PHAN TRỌNG LUẬN)

 

 

***

NHÂN DỊP GIỖ ĐẦU GIÁO SƯ HOÀNG NHƯ MAI

(1919 - 2O13)

 

Trong số người học Ts Nguyễn Mạnh Tường khi xưa thì Gs Hoàng Như Mai là người có duyên phận với nghề giáo. Ông diễn giảng văn học với tư cách là nhân chứng lịch sử, ông diễn giảng Truyện Kiều với tinh thần kế thừa tinh hoa thế hệ trước, truyền lửa thương nước yêu nòi cho thế hệ ngày nay.

“Chúng ta trí thức đi theo Đảng

Nào có khi nào tính thiệt hơn

Việc làm ngay thẳng lòng trong sáng”

Năm 1990, giáo sư Hoàng Như Mai đã chính thức được nghỉ hưu. Ông "hưu" mà lại xây dựng các nhà trường đào tạo theo mô hình mới mà khi còn tại chức không làm được: làm Hiệu trưởng Trương Trung học Trương Vĩnh Ký tại thành phố Hồ Chí Minh và là Hiệu trưởng danh dự của Trường Đại học Dân lập Văn Hiến. Hơn nửa thế kỷ làm thầy mà có tới 6 lần ngồi vào ghế Hiệu trưởng.

Trong Hội thảo “GS-NGND Hoàng Như Mai - Cuộc đời và sự nghiệp”, PGS-TS Võ Văn Nhơn tâm sự:  “GS-NGND Hoàng Như Mai, vị trưởng lão cuối cùng của ngành Văn ở đại học đã ra đi tròn một năm. Giáo sư là một người nghệ sĩ, một nhà nghiên cứu, một nhà hoạt động văn hóa lớn. Nhưng trên hết, giáo sư là một người thầy lớn của ĐH Quốc gia TPHCM và của cả ngành giáo dục nước nhà. Thầy đến với giáo dục như một cái duyên tình cờ, nhưng thầy đã gắn trọn đời với ngành giáo dục bởi một tình yêu vô bờ với học trò, với nghề nghiệp, với văn học nước nhà. Thầy hấp dẫn mọi người ở tác phong nghệ sĩ, ở cách phân tích sắc sảo, bởi tinh thần học thuật tự do và nhất là bởi cái tình với văn chương, bởi sự chí tình với học trò”. Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Ngọc Ký xúc động nhớ về thầy: “Thầy Hoàng Như Mai đã truyền lại cho tôi ngọn lửa cháy hết mình vì học trò. Ngọn lửa của lòng đam mê vì những giá trị nhân văn cao cả, ngọn lửa của nghệ thuật lên lớp không chỉ bằng những kiến thức sâu sắc, chuẩn mực đạo đức mới mẻ mà trước hết phải bằng cả trái tim tràn đầy cảm xúc thăng hoa với tiếng lòng dân, trào yêu thương cuộn sóng. Xin cảm ơn người thầy cao cả của tôi. Cảm ơn vì sao mãi mãi còn lung linh thắp sáng nơi góc thẳm ký ức tôi”. : “GS Hoàng Như Mai từ một trí thức dấn thân đi làm cách mạng cuối đời trải qua rất nhiều nghề. Mỗi nghề dù trong hoàn cảnh nào đều thể hiện 3 yếu tố: thực hiện tốt sự phân công xã hội, tâm huyết yêu nghề và đức độ tài năng. (TS Trương Minh Nhựt) “Thầy chăm lo giúp đỡ cho nhiều thế hệ nhà văn tài năng của Khoa văn như Phan Tứ, Bùi Minh Quốc, Bế Kiến Quốc, Nguyễn Duy, Thanh Thảo, Nguyễn Ngọc Ký, Ý Nhi, Lê Quang, Đỗ Minh Tuấn. Thầy là nhà giáo ngoài Đảng, những tấm lòng vì Đảng, vì dân của thầy ngời sáng. Truyền bá cái hay, cái đẹp của văn chương cho các thế hệ học trò, bản thân thầy còn là một nhà viết kịch, nhà thơ:

 

Cái thực nhiều khi là cái mộng

Tầm thường là kẻ rất cao siêu

Kìa trông cái tốt đang hư hỏng

Cái xấu đang khoe vẻ mỹ miều.


 

Cuộc đời vinh nhục vui buồn

Sắc - không, không - sắc há còn vấn vương

Bao giờ đến lượt lên đường

Thì như một chiếc lá vàng gió bay.

 

Vĩnh biệt thầy! Vĩnh biệt một người Cộng sản ngoài Đảng chân chính.” (Vĩnh Quang Lê)